Xuất nhập khẩu
13/10/2011 2:16:00 PM
Chiến lược xuất nhập khẩu đến năm 2020: Phải dựa trên sức cạnh tranh của nền kinh tế
IRV - Mục tiêu của chính sách thương mại thời kỳ 2011-2020 là cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực, tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Các biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2015, mục tiêu đến năm 2020 cũng đang được Bộ Công Thương xây dựng, nhưng theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, Chiến lược phải dựa trên sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Lợi ích từ XK vào thị trường Trung Quốc ngày càng giảm. (Ảnh: nguồn Internet)
10 năm, không có đột phá về cấu trúc hàng hóa
Trước tác động hội nhập kinh tế đối với nền kinh tế và xuất nhập khẩu của Việt Nam (VN), TS.Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phân tích, giai đoạn 2001-2010 đã chứng kiến những biến đổi đáng kể của nền kinh tế, với hai điểm nhấn chính: Các mốc hội nhập kinh tế quốc tế và các cú sốc từ bên ngoài, như khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá dầu và lương thực tăng cao... Các nhân tố này đã tương tác cùng những thay đổi, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thể chế trong nước. Chính sách thương mại, cũng vì vậy mà phân biệt khá rõ hai giai đoạn: 2001-2005 và 2006-2010. 

Giai đoạn 2001-2005, lần đầu tiên, cơ chế nhập khẩu (NK) được ban hành ổn định trong 5 năm, góp phần làm tăng tính tiên liệu của chính sách thương mại, tạo điều kiện cho (doanh nghiệp) DN hoạch định kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về việc qui định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài được ban hành, công nhận quyền XNK của DN tư nhân, giảm thiểu mức thủ tục hành chính. Bản thân cơ quan nhà nước cũng có một khung khổ chính sách có tính hiệu lực cao và thuận lợi cho công tác quản lý, điều hành XNK. 

Giai đoạn 2006-2010, sự thay đổi chính sách mang tính chất đảo chiều: vừa phải chống suy giảm, vừa phải gồng lưng chống lạm phát, đã tác động đến nền kinh tế, dòng vốn đầu tư và hoạt động XNK. Từ sau 2007, XK biến động mạnh hơn, tăng trưởng đạt 22% và năm 2008 đạt 29%, rồi giảm vào năm 2009, trước khi phục hồi trong năm 2010. Giá trị XK hàng trung gian tăng từ 2,7 tỷ USD lên 9,3 tỷ USD trong giai đoạn 2006-2010, đạt đỉnh 16,7 tỷ USD vào năm 2008. “Hai nhân tố quan trọng dẫn đến kết quả tăng trưởng XK này, là mức tăng trưởng thương mại toàn cầu và tự do hóa thương mại đã cải thiện khả năng cạnh tranh”, TS. Võ Trí Thành nói. 

Nhập siêu hàng hóa có xu hướng tăng liên tục cho đến 2008. Năm 2001, nhập siêu mới chỉ ở mức 1,2 tỷ USD nhưng đã tăng mạnh lên gần 5,1 tỷ USD vào năm 2006, trở thành vấn đề nghiêm trọng. Đặc biệt, sau khi VN gia nhập WTO, nhập siêu tăng mạnh hơn, năm 2007 là 14,2 tỷ USD và năm 2008 tăng lên 18,0 tỷ USD. Tính chung, trong cả giai đoạn 2001-2010, nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhập siêu với các nước. Lợi ích từ XK vào thị trường Trung Quốc ngày càng giảm. TS. Thành nhận xét, thời gian này, tăng nhập siêu đi liền với sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đầu tư và tiết kiệm trong nước, cách thức điều hành vĩ mô (tài khóa, tiền tệ, tỷ giá), chính sách đầu tư, thương mại.
Nhìn lại quá trình đổi mới, chính sách thương mại đã có những thành tựu nhất định song cũng bộc lộ nhiều bất cập, thiếu nhìn nhận đầy đủ và phối hợp với các chính sách vĩ mô khác; chịu áp lực bảo hộ lớn trong khi chưa gắn kết việc bảo hộ trong ngắn hạn với nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển trong dài hạn... Ngoài ra, theo TS. Thành, cần xem xét khía cạnh XK ngành hàng. Cấu trúc hàng hóa XNK dường như không có bước đột phá trong giai đoạn 2001-2010. XK của ta dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên (dầu thô, than đá), các mặt hàng nông sản (thủy sản, gạo, hạt tiêu, cao su...) và các mặt hàng sử dụng nhiều nhân công trong quá trình sản xuất. Cơ cấu XK của 50 mặt hàng có giá trị XK lớn nhất không ổn định, dù đang có sự chuyển dịch tích cực bước đầu về các mặt hàng (dây điện, cáp điện, điện tử, máy tính...) thâm dụng vốn, đòi hỏi trình độ sản xuất tay nghề cao hơn.

Nguy cơ mắc “bẫy” tự do hóa thương mại
Gia nhập WTO (2007), VN hội nhập sâu hơn được thể hiện trên các nhân tố: Thứ nhất, tác động mạnh đến dòng vốn đầu tư và XNK của VN. Thứ hai, năm 2006, VN đã cắt giảm 90% các dòng thuế trong ASEAN xuống 0-5%, tiếp đến là cắt giảm thuế theo Hiệp định Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc và Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Hàn Quốc. Nhưng ông Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng, trong dài hạn, VN vẫn có nguy cơ rơi vào “bẫy tự do hóa thương mại” do lợi thế tĩnh sẽ cạn dần trong khi lợi thế cạnh tranh động nhờ lợi thế về quy mô, cạnh tranh và cải thiện công nghệ không được tạo dựng. Áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng gia tăng đối với các doanh nghiệp VN, đặc biệt là giai đoạn từ 2015, bởi khi đó, tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu sẽ giảm đáng kể. 

Ông Trương Đình Tuyển phân tích, nếu sức ép lớn nhất của VN khi gia nhập WTO là thể chế và dịch vụ, thì hiện nay, các hiệp định thương mại (FTA) song phương và khu vực lại gây nhiều sức ép về thương mại hàng hóa. Các FTA của ASEAN, ASEAN+1 yêu cầu khoảng 90% số dòng thuế sẽ về 0% vào năm 2015, còn lại sẽ đưa về 0% vào năm 2018. Vì vậy, khi VN thực hiện các cam kết hội nhập với đẩy nhanh cải cách trong nước, kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất dễ tổn thương trước những cú sốc về giá, suy thoái khủng hoảng tài chính... từ bên ngoài. Ông Tuyển cảnh báo, áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng gia tăng đối với doanh nghiệp VN, đặc biệt là giai đoạn từ 2015, bởi khi đó, tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu sẽ giảm đáng kể. DN sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nếu không dần vươn lên, tạo dựng lợi thế cạnh tranh động, thông qua đón nhận, học hỏi công nghệ, kỹ năng quản lý và tận dụng lợi thế nhờ quy mô liên kết. 

Mặt khác, với các FTA thuế quan giảm mạnh, theo ông Tuyển, là cơ hội lớn tiếp cận thị trường và XK của VN, nhất là các đối tác thường tự do hóa nhanh hơn hoặc có ưu đãi hơn. "Song việc tận dụng cơ hội đến đâu, còn tùy thuộc vào chính sách thuận lợi hóa thương mại của Chính phủ và khả năng đáp ứng quy tắc, quy định liên quan đến hàng rào kỹ thuật, việc liên kết mạng phân phối cũng như việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DN", ông Tuyển nói.

Tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu
Giai đoạn tới, phát triển kinh tế, thương mại của VN diễn ra trong bối cảnh mới, với những cơ hội, thách thức đan xen. Bên cạnh đó, VN cũng đẩy mạnh hội nhập, thực hiện các FTA và nếu các FTA như Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA giữa VN - châu Âu, FTA VN - Liên minh thuế quan Nga, Belarut, Kazacxtan được ký kết, cơ hội XK cho VN sẽ mở rộng và dịch chuyển hợp lý hơn. Mục tiêu của chính sách thương mại thời kỳ 2011-2020 là cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực, tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. 

Theo đó, để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, ông Tuyển lưu ý 6 nội dung. 

Một là, chính sách tỷ giá. Cơ chế tỷ giá của nước ta về cơ bản là neo tỷ giá (VND/USD). Cách thức điều hành (phá giá danh nghĩa) là nhân tố tăng lạm phát, không kiềm chế được nhập siêu và VND vẫn chịu sức ép mất giá. Vì vậy, thời gian tới, VN chưa thể theo đuổi chế độ tỷ giá thả nổi, bởi một chế độ tỷ giá thích hợp phải duy trì khả năng cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế và tạo được dư địa giao động tỷ giá, qua đó, tăng tính linh hoạt cho chính sách tiền tệ. 

Hai là, chính sách đầu tư. Trước hết, cần có các biện pháp khuyến khích tiết kiệm, giảm tiêu dùng. Chính sách thu hút FDI cần tập trung vào các đối tác tiềm năng; Định hướng sử dụng nguồn vốn ODA cần có những thay đổi phù hợp; hoàn thiện hơn các quy định về đấu thầu. Đặc biệt, cần quan tâm chính sách đầu tư phát triển cụm ngành, công nghiệp hỗ trợ để giảm NK, tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng cho hàng XK. 

Ba là, đầu tư tăng năng lực sản xuất các mặt hàng có lợi thế XK, trong đó, tập trung mở rộng sản xuất các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng XK cao và liên tục trong nhiều năm. 

Bốn là, nâng cao giá trị XK hàng nông sản, hướng tới chế biến sâu, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao. 

Năm là, tổ chức thị trường và xúc tiến xuất khẩu; xây dựng phương án khai thác hiệu quả các thị trường có FTA, đặc biệt, quan tâm khai thác thị trường Trung Quốc. 

Sáu là, quản lý nhập khẩu, giảm nhập siêu. Hoàn thiện cơ chế điều hành NK trên cơ sở xác định lại định hướng điều hành NK, để đưa ra các giải pháp điều hành nhằm tăng XK, giảm nhập siêu, xây dựng khung khổ chính sách và cơ chế bảo hộ thương mại hợp lý.
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều