Công ty Xi măng Hoàng Thạch: Nỗ lực bảo vệ môi trường
IRV - Năm 2010, Công ty Xi măng Hoàng Thạch đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận đặt ra, góp phần vào thành tích chung của Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam. Công ty đã tiêu thụ được hơn 4 triệu tấn sản phẩm, nộp ngân sách 162,55 tỉ đồng, lợi nhuận đạt 450 tỉ đồng. Với khối lượng sản xuất như vậy, hàng ngày, Công ty đã thải ra môi trường một lượng nước thải, bụi, khí thải, chất thải rắn không nhỏ.
Ý thức rất rõ về vai trò của công tác bảo vệ môi trường trong sự phát triển bền vững, Công ty Xi măng Hoàng Thạch đã tập trung cho công tác khảo sát môi trường, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) từ hàng chục năm nay. Sau đó, thực hiện giám sát môi trường định kỳ với tần suất quan trắc môi trường 02 lần/năm theo đúng qui định trong ĐTM (về tần số 02 lần/năm và các thông số giám sát gồm khí thải, bụi thải, nước thải, tiếng ồn…). Riêng giám sát khí thải mỗi năm quan trắc 04 lần.
1. Về nước thải
Là đơn vị sản xuất xi măng nên lượng nước sử dụng trong toàn bộ quá trình tương đối lớn, khoảng 4.500 m3/ngày, đêm. Trong đó, nước thải làm mát máy cho cả 3 dây chuyền 1,2,3 đã được thu hồi, tuần hoàn, tái sử dụng, không xả ra môi trường; Lượng nước phục vụ cho công nghệ sản xuất xi măng (nước làm nguội clinker, nước phun vào máy nghiền xi măng, nước cấp cho nồi hơi, nước cấp cho tháp làm lạnh, nước làm ẩm liệu…) và một phần lượng nước bổ sung cho nước làm mát. Lượng nước này bị tiêu hao mất đi trong quá trình sản xuất không thải ra môi trường khoảng 4.200 m3/ngày, đêm; Nước cấp cho sinh hoạt của CBCNV (được xử lý qua bể tự hoại) và nước rửa xe tại xưởng xe máy (được gom vào bể xử lý lắng, tách cặn theo phương pháp tuyển nổi, sục khí) vào khoảng 300 m3/ngày, đêm. Hai loại nước này sau khi xử lý đạt QCVN 24:2009/BTNMT – Quy chuẩn quốc gia về nước thải công nghiệp (cột B), mới được xả theo hệ thống mương thoát nước đổ ra sông Đá Bạch.
2. Về bụi, khí thải
Khí thải sinh ra do quá trình đốt nhiên liệu và các phản ứng hóa học trong các công đoạn nung luyện gồm một số khí thải chính như SO2, NO2, CO. Với các khí này, Công ty tiến hành xử lý theo phương pháp pha loãng. Khí thải được pha loãng, khuếch tán vào không khí thông qua 3 ống khói chính cao từ 87,25-120m. Do vậy, nồng độ các khí độc hại trên đã giảm rất nhiều, không ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Các số liệu quan trắc tải lượng khí thải tại các ống khói và ống xả của lọc bụi tĩnh điện khác đều nhỏ hơn QCVN 23:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất xi măng và QCVN 19:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ.
Để giảm thiểu khí thải, Công ty đã cải tiến hệ thống vòi phun của lò nung Hoàng Thạch 1 với công nghệ từ những năm 1980 kiểu đốt 85% than + 15% dầu thành vòi phun đốt 100% than, lượng than qua vòi phun cháy hoàn toàn làm giảm nồng độ các khí độc hại, đặc biệt là khí CO.
Ngoài ra, Công ty cũng tăng cường giám sát, vận hành thiết bị lò nung đúng thiết kế, duy trì nhiệt độ lò nung ổn định ở mức cao (1.4500C) để đốt cháy gần như hoàn toàn các loại khí thải nhằm giảm thiểu tối đa lượng khí thải ra môi trường.
Riêng đối với bụi thải, tại các công đoạn như chuyển hướng băng tải, vận chuyển, nghiền liệu, nung clinker, đóng bao… Công ty đều trang bị các thiết bị xử lý bụi. Đồng thời, bố trí 136 lọc bụi tay áo, 11 lọc bụi tĩnh điện trong toàn bộ 3 dây chuyền sản xuất, hoạt động với hiệu suất gần 100% nên loại bỏ gần như toàn bộ bụi, không phát thải ra môi trường.
3. Chất thải rắn
Với hai loại chất thải thông thường (khoảng 15.000 kg/tháng) và chất thải nguy hại (khoảng hơn 7.000 kg/tháng), Công ty cho phân loại triệt để và được thu gom vào các thùng chứa riêng biệt có mái che đặt ở các phân xưởng. Một số loại đặc biệt còn được lưu vào kho. Hàng tuần, các chất thải rắn được xử lý theo hướng, chất thải nào có thể tái chế sẽ được tái chế. Chất thải nào không tái sử dụng được thì đem đốt tại cửa đốt chất thải nguy hại ở lò nung Hoàng Thạch 2. Chỉ tính riêng năm 2010, Công ty đã xử lý được trên 150 tấn rác thải thông thường tại bãi chôn lấp rác và 35 tấn chất thải nguy hại tại lò nung clinker đảm bảo tiêu chuẩn, qui chuẩn về môi trường, đồng thời tiết kiệm khoảng 250 triệu đồng do không phải thuê xử lý.
4. Tiếng ồn
Tại các vị trí có tiếng ồn lớn (không thể giảm thiểu theo công nghệ) như trạm nén khí, nghiền liệu, nghiền clinker… Công ty đã xây dựng các phòng trực được cách âm và thông gió tốt cho công nhân vận hành, đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động. Ngoài ra, Công ty còn tăng cường công tác kiểm tra bảo dưỡng các thiết bị, thay thế một số máy nén khí cũ có tiếng ồn lớn bằng máy mới hiện đại, đồng thời trang bị đầy đủ các phương chống ồn cho người lao động như nút tai chống ồn…
Với những nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường, Công ty đã nhận được nhiều phần thưởng do các bộ, ban, ngành trao tặng. Năm 2003, Tổ chức năng suất châu Á (APO) công nhận Công ty đáp ứng yêu cầu về Năng suất xanh; Năm 2004 đến nay liên tục nhận được danh hiệu doanh nghiệp Xanh – Sạch – Đẹp; Năm 2008 được Cúp vàng thương hiệu xanh phát triển bền vững do Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam tổ chức và Bằng khen Vì sự nghiệp Bảo vệ môi trường…
Năm 2010, Công ty là một trong 3 doanh nghiệp của tỉnh Hải Dương được Ủy ban bảo vệ lưu vực sông Cầu tặng giấy khen có thành tích trong công tác bảo vệ lưu vực sông Cầu.
Công tác bảo vệ môi trường đã góp phần quan trọng vào thành tích chung của Công ty Xi măng Hoàng Thạch, là một doanh nghiệp anh hùng phát triển bền vững và thân thiện môi trường.