Ô nhiễm môi trường đang là điều bức xúc trong đời sống xã hội, đặc biệt, tại các lưu vực sông, khu công nghiệp, đô thị và làng nghề; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn đang ngày càng tinh vi và phức tạp. Cả nước hiện có tới gần 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, hơn 1.500 làng nghề, hơn 200 khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường cần phải được xử lý triệt để, việc xả nước thải ra các lưu vực sông chính và khí thải tại các khu vực nhạy cảm chưa được kiểm soát,... Điều đó cho thấy nhiệm vụ của chúng ta trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT) thời gian tới là hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có sự chung sức, chung lòng, cùng nhau nỗ lực hơn nữa để BVMT, phải thực sự coi BVMT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã nhấn mạnh: BVMT trong thời gian tới có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và cần những giải pháp mang tính đột phá. Theo Bộ trưởng, để bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội và cuộc sống, an sinh của nhân dân, công tác BVMT cần tập trung thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Đó là:
(1) Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH); xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh.
(2) Cần đẩy mạnh cơ chế kinh tế hóa trong quản lý tài nguyên và BVMT, chuyển đổi cơ chế “bao cấp”, “xin – cho”, nặng về kiểm soát hành chính sang cơ chế thị trường; khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch; hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT và phát triển các dịch vụ môi trường.
(3) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, hình thành hệ thống văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập. Trước mắt, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về BVMT khu - cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, làng nghề, các lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo.
(4) Nâng cao nhận thức về nguy cơ ô nhiễm môi trường, BĐKH và nước biển dâng đối với sự phát triển bền vững, thể hiện rõ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng vùng lãnh thổ, từng ngành, địa phương trong từng dự án, với tầm nhìn dài hạn; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.
(5) Tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo hướng hiện đại, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ ngày càng phức tạp, nặng nề, đáp ứng yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, tạo cơ chế phối hợp, hợp tác để huy động mọi thành phần kinh tế và tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế cho công tác BVMT, ứng phó với BĐKH.
(6) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, trong đó, đặt trọng tâm đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi cả nước và việc thực hiện nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết BVMT của các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
(7) Xây dựng một chiến lược vận động các nước, các nhà tài trợ quốc tế hỗ trợ Việt Nam ưu tiên giải quyết các vấn đề về môi trường và ứng phó với BĐKH, nhằm tranh thủ các nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
(8) Xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Môi trường phải trở thành tiêu chí cơ bản trong các hoạt động bình chọn, xét thi đua, khen thư tôi cần biết về giãm thiểu tác động khác mục 3.5 la gì trong nội dung của bảng cam kêt môi trường ở phần III tôi đã làm nhưng chưa rỏ Xin cho biết về thông tin
chân thành cảm ơn sự giúp đở hoa : - nhinh.mgc@gmail.com  Để giải quyết tốt vấn đề môi trường, cần chú trọng giải quyết đồng thời nhiều mâu thuẫn đang tồn tại, nảy sinh như: mâu thuẫn giữa tư tưởng làm giàu “ăn xổi, ở thì” của một bộ phận người (và cả doanh nghiệp) trong xã hội với yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu bảo vệ môi trường phải rất kiên trì, bền bỉ; mâu thuẫn giữa lợi ích nhất thời, trước mắt với lợi ích cơ bản, lâu dài; mâu thuẫn giữa sự “tăng trưởng nóng” với sự phát triển ổn định, hài hòa, bền vững...
Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về sự cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường hiện nay, tích cực chăm lo xây dựng văn hóa ứng xử với môi trường cho mọi cấp, mọi ngành, mọi người, mọi tổ chức, mọi đơn vị sản xuất kinh doanh.
Việc hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững không thể không quan tâm đến việc lựa chọn các mô hình tăng trưởng coi môi trường là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngành, các địa phương cần ưu tiên ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường; thường xuyên cập nhật những tiến bộ, thành tựu của thế giới về xử lý môi trường để giảm thiểu ô nhiễm, tiến tới xây dựng những cơ sở sản xuất kinh doanh sạch để ngày càng có nhiều không gian sạch, môi trường sạch.
Bên cạnh đó, cần sớm nghiên cứu, xây dựng và ban hành các tiêu chí môi trường trong từng ngành, từng sản phẩm kinh tế; coi bảo vệ môi trường trong sạch là một trong những tiêu chí “cứng” để xác định thương hiệu của mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp, mỗi sản phẩm kinh tế, qua đó góp phần tạo dựng vị thế, diện mạo của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Từng bước xây dựng một nền “năng lượng sạch” cho nền kinh tế quốc dân và chăm lo, tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ “tiêu dùng sạch”.
Cùng với việc tăng cường các biện pháp xử lý có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị, khu làng nghề, chúng ta cần hết sức chú ý đến việc quy hoạch các khu xử lý rác thải ở nông thôn. Với khoảng 70% dân số nông dân đang sinh sống, cư trú, lao động sản xuất ở nông thôn thì việc giữ gìn, bảo vệ môi trường ở địa bàn rộng lớn này ngay từ bây giờ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bảo vệ tốt môi trường sống phải đi trước một bước mới tạo đà cho sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước nói chung, ở khu vực nông thôn nói riêng, được thuận lợi.
Nhiệm vụ bảo vệ môi trường rất cấp thiết như vậy, nên trong thời gian tới nên xây dựng lực lượng chuyên trách tham gia công tác bảo vệ môi trường ở cấp xã. Nếu xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thì phải coi trọng và đề cao vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc bảo vệ môi trường, trong đó đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn làm công tác môi trường ở địa bàn này làm nòng cốt.
Một giải pháp quan trọng nữa là cần tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật về môi trường. Trên cơ sở đó tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ môi trường; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả đấu tranh, phòng chống, đẩy lùi các hành vi vi phạm môi trường, các loại tội phạm về môi trường. Đây chính là “bức tường lửa” nhằm răn đe, ngăn chặn mọi biểu hiện, hoạt động làm tổn hại đến môi trường sinh thái, góp phần giữ gìn và bảo vệ an ninh môi trường trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Cần phải có các biện pháp xử lý thích đáng các hành vi gây ô nhiễm môi trường...đưa các quy phạm thành các quy tắc xã hội. xữ lí nghiêm các cơ sở gây ô nhiểm môi trường , đưa vào nhà trường TH, THCS , THPT môn chính thức về môi trường
Ô nhiễm môi trường đang là điều bức xúc trong đời sống xã hội, đặc biệt, tại các lưu vực sông, khu công nghiệp, đô thị và làng nghề; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn đang ngày càng tinh vi và phức tạp. Cả nước hiện có tới gần 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, hơn 1.500 làng nghề, hơn 200 khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường cần phải được xử lý triệt để, việc xả nước thải ra các lưu vực sông chính và khí thải tại các khu vực nhạy cảm chưa được kiểm soát,... Điều đó cho thấy nhiệm vụ của chúng ta trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT) thời gian tới là hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có sự chung sức, chung lòng, cùng nhau nỗ lực hơn nữa để BVMT, phải thực sự coi BVMT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã nhấn mạnh: BVMT trong thời gian tới có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và cần những giải pháp mang tính đột phá. Theo Bộ trưởng, để bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội và cuộc sống, an sinh của nhân dân, công tác BVMT cần tập trung thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Đó là:
(1) Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH); xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh.
(2) Cần đẩy mạnh cơ chế kinh tế hóa trong quản lý tài nguyên và BVMT, chuyển đổi cơ chế “bao cấp”, “xin – cho”, nặng về kiểm soát hành chính sang cơ chế thị trường; khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch; hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT và phát triển các dịch vụ môi trường.
(3) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, hình thành hệ thống văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập. Trước mắt, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về BVMT khu - cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, làng nghề, các lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo.
(4) Nâng cao nhận thức về nguy cơ ô nhiễm môi trường, BĐKH và nước biển dâng đối với sự phát triển bền vững, thể hiện rõ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng vùng lãnh thổ, từng ngành, địa phương trong từng dự án, với tầm nhìn dài hạn; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.
(5) Tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo hướng hiện đại, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ ngày càng phức tạp, nặng nề, đáp ứng yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, tạo cơ chế phối hợp, hợp tác để huy động mọi thành phần kinh tế và tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế cho công tác BVMT, ứng phó với BĐKH.
(6) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, trong đó, đặt trọng tâm đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi cả nước và việc thực hiện nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết BVMT của các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
(7) Xây dựng một chiến lược vận động các nước, các nhà tài trợ quốc tế hỗ trợ Việt Nam ưu tiên giải quyết các vấn đề về môi trường và ứng phó với BĐKH, nhằm tranh thủ các nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
(8) Xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Môi trường phải trở thành tiêu chí cơ bản trong các hoạt động bình chọn, xét thi đua, khen thư tôi cần biết về giãm thiểu tác động khác mục 3.5 la gì trong nội dung của bảng cam kêt môi trường ở phần III tôi đã làm nhưng chưa rỏ Xin cho biết về thông tin
chân thành cảm ơn sự giúp đở hoa : - nhinh.mgc@gmail.com  Để giải quyết tốt vấn đề môi trường, cần chú trọng giải quyết đồng thời nhiều mâu thuẫn đang tồn tại, nảy sinh như: mâu thuẫn giữa tư tưởng làm giàu “ăn xổi, ở thì” của một bộ phận người (và cả doanh nghiệp) trong xã hội với yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu bảo vệ môi trường phải rất kiên trì, bền bỉ; mâu thuẫn giữa lợi ích nhất thời, trước mắt với lợi ích cơ bản, lâu dài; mâu thuẫn giữa sự “tăng trưởng nóng” với sự phát triển ổn định, hài hòa, bền vững...
Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về sự cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường hiện nay, tích cực chăm lo xây dựng văn hóa ứng xử với môi trường cho mọi cấp, mọi ngành, mọi người, mọi tổ chức, mọi đơn vị sản xuất kinh doanh.
Việc hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững không thể không quan tâm đến việc lựa chọn các mô hình tăng trưởng coi môi trường là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngành, các địa phương cần ưu tiên ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường; thường xuyên cập nhật những tiến bộ, thành tựu của thế giới về xử lý môi trường để giảm thiểu ô nhiễm, tiến tới xây dựng những cơ sở sản xuất kinh doanh sạch để ngày càng có nhiều không gian sạch, môi trường sạch.
Bên cạnh đó, cần sớm nghiên cứu, xây dựng và ban hành các tiêu chí môi trường trong từng ngành, từng sản phẩm kinh tế; coi bảo vệ môi trường trong sạch là một trong những tiêu chí “cứng” để xác định thương hiệu của mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp, mỗi sản phẩm kinh tế, qua đó góp phần tạo dựng vị thế, diện mạo của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Từng bước xây dựng một nền “năng lượng sạch” cho nền kinh tế quốc dân và chăm lo, tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ “tiêu dùng sạch”.
Cùng với việc tăng cường các biện pháp xử lý có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị, khu làng nghề, chúng ta cần hết sức chú ý đến việc quy hoạch các khu xử lý rác thải ở nông thôn. Với khoảng 70% dân số nông dân đang sinh sống, cư trú, lao động sản xuất ở nông thôn thì việc giữ gìn, bảo vệ môi trường ở địa bàn rộng lớn này ngay từ bây giờ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bảo vệ tốt môi trường sống phải đi trước một bước mới tạo đà cho sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước nói chung, ở khu vực nông thôn nói riêng, được thuận lợi.
Nhiệm vụ bảo vệ môi trường rất cấp thiết như vậy, nên trong thời gian tới nên xây dựng lực lượng chuyên trách tham gia công tác bảo vệ môi trường ở cấp xã. Nếu xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thì phải coi trọng và đề cao vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc bảo vệ môi trường, trong đó đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn làm công tác môi trường ở địa bàn này làm nòng cốt.
Một giải pháp quan trọng nữa là cần tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật về môi trường. Trên cơ sở đó tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ môi trường; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả đấu tranh, phòng chống, đẩy lùi các hành vi vi phạm môi trường, các loại tội phạm về môi trường. Đây chính là “bức tường lửa” nhằm răn đe, ngăn chặn mọi biểu hiện, hoạt động làm tổn hại đến môi trường sinh thái, góp phần giữ gìn và bảo vệ an ninh môi trường trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Cần phải có các biện pháp xử lý thích đáng các hành vi gây ô nhiễm môi trường...đưa các quy phạm thành các quy tắc xã hội. xữ lí nghiêm các cơ sở gây ô nhiểm môi trường , đưa vào nhà trường TH, THCS , THPT môn chính thức về môi trường
|