Kinh tế
1/2/2012 9:07:00 PM
Điều hành kinh tế trước hết phải củng cố được lòng tin

IRV - Năm 2011, khi đối mặt với sự gia tăng lạm phát và những vấn đề bất ổn vĩ mô, Chính phủ Việt Nam đã phải ban hành và áp dụng những chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Theo dự báo, năm 2012 có thể tình hình kinh tế còn nhiều thách thức hơn nữa. Việc chống lạm phát và ổn định vĩ mô cần có giải pháp trung hạn và dài hạn như thế nào để vừa vẫn thực hiện chính sách quản lý tiền tệ chặt chẽ để giảm lạm phát, mà vẫn không “làm khó” cho doanh nghiệp? Đó là nội dung cuộc trò chuyện của phóng viên Tạp chí Công nghiệp với tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm - Thành viên Hội đồng Chính sách tiền tệ Quốc gia.

PV: Ông cho biết những đánh giá cơ bản về chính sách quản lý tiền tệ chặt chẽ của Nhà nước trong năm vừa qua? Ông có những cảm nhận, dự báo gì về kết quả của những chính sách này?

TS. Cao Sỹ Kiêm: Như chúng ta đã biết, diễn biến của kinh tế thế giới trong năm 2011 có ba vấn đề lớn nổi cộm. Thứ nhất là tình hình khôi phục kinh tế thế giới chậm; thứ hai là khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng euro lan rộng, nợ công ở nhiều nền kinh tế chủ chốt tăng cao tới mức nguy hiểm, đồng đô la Mỹ biến động mạnh, giá vàng tăng cao kỷ lục; thứ ba là Trung Quốc, nước có nền kinh tế đứng thứ hai cũng rơi vào lạm phát rất cao, tiếp theo là kinh tế Nhật Bản suy giảm sau thiên tai động đất, sóng thần và sự cố nhà máy điện hạt nhân. Những diễn biến kinh tế, tài chính thế giới đã tác động không nhỏ tới diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước, cộng hưởng với những yếu kém nội sinh làm cho bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2011 không mấy sáng sủa. Hệ số ICOR cao, bội chi ngân sách, nhập siêu tuy có giảm nhưng vẫn cao, nhất là trong 3 tháng đầu năm.

Tại Kết luận số 02 và Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu chính là kiềm chế lạm phát, đảm bảo đời sống an sinh xã hội. Có thể nói, 6 nội dung của Nghị quyết 11 ban hành rất sớm, tạo nên nhận thức thống nhất rất cao của doanh nghiệp, còn người dân rất khí thế. Những yếu tố đó góp phần làm nền cho kinh tế năm 2011 có chuyển biến tích cực. Trong đó, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ mức ổn định và cũng là năm có kết quả sản xuất cao; công nghiệp phát triển tốt, GDP tháng sau, quý sau đều tăng cao hơn tháng, quý trước; nhập siêu đã giảm, cán cân thanh toán được cải thiện, kiểm soát chi tốt hơn, tăng được thu nên bội chi giảm dưới 5%.

Điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ và kiểm soát chặt tín dụng là điều tất yếu trong kiểm soát lạm phát, nhưng cũng khiến cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng không ít. Có thể thấy, mặt tích cực của chính sách tiền tệ và tài khóa là làm cho 2 mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng giữ mức hợp lý, nhưng đang bộc lộ khuyết điểm, đó là bội chi ngân sách và nhập siêu so với trước có giảm, nhưng so với yêu cầu chung vẫn đứng ở mức cao. Những nút thắt của nền kinh tế như chi phí đầu vào quá cao, giảm chi tiêu công chưa nhiều, hệ số ICOR cao... chưa được mở. Một điều dễ nhận thấy đó là, việc điều hành và sự phối kết hợp giữa các chính sách chưa nhịp nhàng, dẫn đến lòng tin của nhân dân về các chính sách chưa được nâng lên một cách đầy đủ. Đặc biệt, các giải pháp tập trung nhiều vào giải quyết tình thế, chưa tính tới những giải pháp mang tính bền vững.

PV: Giải pháp tình thế có thể giải quyết vấn đề trước mắt, còn về lâu dài, thậm chí nó có thể gây ra những hệ lụy lớn, có phải vậy không, thưa ông?

TS. Cao Sỹ Kiêm: Đúng vậy! Ví dụ, nếu “bóp” tín dụng, thắt chặt ngân sách lại thì đầu tư giảm, việc làm cũng giảm và động lực để tăng sản xuất, tăng việc làm là không có. Hơn nữa, khi lạm phát đã tăng lên, tình trạng này kéo dài thì sức mua chắc chắn sẽ giảm, hàng hóa sản xuất ra tồn đọng, làm cho sản xuất của doanh nghiệp đình trệ... thì rất có thể, lại chuyển qua giảm phát chứ không còn là lạm phát nữa. Nếu vậy còn nguy hiểm hơn nhiều!

PV: Nhiều ý kiến cho rằng, rất khó cân bằng hai mặt mâu thuẫn của vấn đề hiện nay, khi một bên là thắt chặt tiền tệ để giảm lạm phát, bên kia là nới lỏng để hỗ trợ doanh nghiệp. Vậy theo ông, để giải quyết vấn đề này,  Nhà nước cần làm gì?

TS. Cao Sỹ Kiêm: Tôi cho rằng, thứ nhất là phải kiên quyết các biện pháp chống lạm phát, lấy đó làm mũi nhọn tập trung. Bởi vì làm thế sẽ đảm bảo yếu tố lâu dài và không đổ vỡ. Để chống lạm phát thành công, phải chấp nhận các giải pháp với những liều thuốc mạnh hơn, đồng bộ hơn, kiên quyết hơn. Thứ hai, ngân hàng phải giảm lãi suất xuống, mới cứu được doanh nghiệp. Chứ để doanh nghiệp vay vốn lãi suất 22-23% thì không có doanh nghiệp nào chịu nổi. Lãi suất cao như thế đối với doanh nghiệp sẽ khiến họ một là hụt vốn lưu động, hai là không trả nợ được, ba là không dám vay nữa, ngừng lại thì đồng nghĩa với phá sản.

PV: Thưa ông, trong thời gian qua, “tín dụng đen” đang được coi như một cứu cánh của các DN trong lúc bĩ cực, vậy Nhà nước cần có giải pháp như thế nào để ngăn được nguồn tín dụng này?

TS. Cao Sỹ Kiêm: Doanh nghiệp đi theo “tín dụng đen” nghĩa là đi vào chỗ chết, nghĩa là kéo dài thời gian thêm một chút trước khi chết thôi, chứ chẳng có lãi suất chợ đen nào giải thoát cho doanh nghiệp được đâu!

Chúng ta đều biết, không phải ngân hàng nào cũng áp dụng 13% - 14%. Lãi suất phải linh hoạt nhưng cần phải kiểm soát theo cung cầu để phát huy khả năng đầy đủ..

Tôi cho rằng, điều hành chặt chẽ, phải có quản lý, xử lý thường xuyên, minh bạch, công khai. Năm 2012 có một số điểm mới kết hợp giữa giải pháp tình thế và dài hạn như công khai minh bạch, phối hợp ăn ý, điều hành nhịp nhàng. Hơn hết trong lúc này, để giúp DN ổn định sản xuất, việc điều hành phải chuẩn, không thể theo kiểu “giật cục” nghĩa là hôm nay bảo tăng không tăng, mai không nói gì lại tăng… Ví dụ như vẫn phải điều chỉnh một số giá đầu vào nhưng điều chỉnh lúc nào, giá nào chứ không như năm 2011, cùng một lúc điều chỉnh cả giá than, giá xăng lẫn giá điện, DN không “choáng” mới là lạ!

PV: Vậy, năm 2012, việc điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa của Nhà nước sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức như thế nào, thưa ông?

TS. Cao Sỹ Kiêm: Rút kinh nghiệm chỉ đạo của năm 2011, năm 2012 sẽ có những yếu tố mới. Tuy nhiên, cũng có một số hệ lụy mà năm 2011 để lại, “leo thang” sang năm 2012 như: chưa đạt 15% tăng trưởng tín dụng, lạm phát cao năm 2011 “chuồi” sang cả quý I/2012, hầu hết sản xuất của các doanh nghiệp đều đình trệ, lao động thải ra, khả năng đầu tư hạn chế nên sang năm 2012, doanh nghiệp phát triển sẽ khó khăn... Đấy là chưa nói đến kinh tế thế giới, có thể xảy ra 2 hướng, nếu nợ công châu Âu không lan ra thì không sao, kinh tế thế giới sẽ ổn, còn nếu nợ công châu Âu lan ra đến mức không giải quyết được thì nền kinh tế sẽ đối mặt với muôn vàn khó khăn.

Lạm phát thấp, lãi suất thấp thì việc tiếp cận vốn của DN nhiều và nhanh hơn. Chúng ta không thể theo đuổi phương thức tăng trưởng song hành với bất ổn vĩ mô như những năm trước đây, vì vậy, ngoài giải pháp tình thế thì có một giải pháp tương đối dài hạn, đồng bộ là tái cơ cấu mô hình kinh tế, biến từ chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác sang ứng dựng KHKT… đây là những yếu tố nâng hiệu quả lên. Năm 2012, là năm tái cấu trúc nền kinh tế nhà nước với các hành động chiến lược để thay đổi mô hình tăng trưởng... Trên tất cả, điều quan trọng trong chính sách và điều hành kinh tế 2012 là phải củng cố được lòng tin của người dân và DN!

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Thực hiện: Lê Hằng
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều