IRV - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Cao Khoa cho biết, với những chuyển động tích cực trong hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh Quảng Ngãi trong năm qua, có thể đưa ra dự báo rằng năm 2012 có thể sẽ là năm mở đầu cho một làn sóng đầu tư mới.
Khu kinh tế Dung Quất, đặc biệt là Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động cho ra đời các loại sản phẩm đã góp phần quan trọng cho nền kinh tế nước nhà. Đồng thời, Quảng Ngãi còn có nền kinh tế biển phong phú.
Nhân dịp bước vào năm mới, năm 2012, phóng viên thường trú Cổng TTĐT CP tại miền Trung-Tây Nguyên có cuộc phỏng vấn Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Cao Khoa.
Phóng viên: Dung Quất đã thật sự trở thành biểu tượng không chỉ của Quảng Ngãi mà của cả nước. Xin đồng chí Chủ tịch đánh giá về thành tựu mà khu kinh tế này đem lại trong năm 2011?
Chủ tịch Cao Khoa: Đến nay KKT Dung Quất đã thực sự là nhân tố động lực cho sự phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Ngãi và bước đầu tạo sự lan tỏa trong vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh duyên hải miền Trung. Việc Đảng và Nhà nước quyết định chọn Dung Quất làm địa điểm đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước giữ vai trò hết sức quan trọng để dự án này tạo động lực cho bước phát triển đột phá của tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn vừa qua và cả trong thời gian đến.
Sự phát triển của KKT Dung Quất trong những năm gần đây có dấu hiệu chững lại so với những năm trước đó, khi Dự án Nhà máy lọc dầu và các dự án qui mô lớn khác như Nhà máy đóng tàu, Nhà máy công nghiệp nặng Doosan, Nhà máy nhựa PP… nhưng cũng có nhiều yếu tố đáng ghi nhận. Năm 2011, đã cấp giấy chứng nhận đầu tư và thoả thuận đầu tư cho 12 dự án với tổng vốn đăng ký 11.229 tỷ đồng, trong đó cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 7 dự án với tổng số vốn 8.229 tỷ đồng, chấp thuận đầu tư 5 dự án với tổng vốn đăng ký 3.000 tỷ đồng. Trong năm, có 5 dự án đưa vào hoạt động, trong đó đáng chú ý là Dự án Nhà máy nhiên liệu sinh học BioEthanol với tổng vốn đầu tư khoảng 80 triệu USD. Như vậy, đến cuối năm 2011, tại KKT Dung Quất đã có 111 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký khoảng 8 tỷ USD, trong đó giá trị thực hiện khoảng 4,8 tỷ USD. Có 67 dự án đi vào hoạt động, một số dự án đang triển khai xây dựng, thu hút trên 13.500 lao động.
Về hoạt động của các doanh nghiệp, giá trị sản lượng công nghiệp đạt 115.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 255 triệu USD, hàng hoá thông qua cảng đạt gần 5,3 triệu tấn, thu ngân sách trên địa bàn Khu kinh tế Dung Quất đạt khoảng 15.000 tỷ đồng. Đời sống phần lớn công nhân lao động trong KKT Dung Quất ổn định, trong đó hơn 50% lao động có thu nhập khá. Nhìn ở bình diện thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 10 năm (2001 – 2011), nếu thu ngân sách năm 2001 là 153 tỷ đồng thì năm 2005 là khoảng 500 tỷ đồng và năm 2011 là 17,5 ngàn tỷ đồng.
Với các chỉ số phát triển như trên, nhất là về thu ngân sách trên địa bàn tỉnh, có thể khẳng định KKT Dung Quất giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển KT – XH của tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn vừa qua.
Phóng viên: Năm 2011, tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức lễ công bố điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Quảng Ngãi đến năm 2030, phát triển thành phố Quảng Ngãi là đô thị hướng biển. Xin đồng chí cho biết định hướng và giải pháp trong chủ trương hướng biển này ?
Chủ tịch Cao Khoa: Quy hoạch chung thành phố Quảng Ngãi đã được phê duyệt cho thấy thành phố sẽ phát triển hướng biển, từ phát triển hai bên sông Trà Khúc, gắn kết chặt chẽ với Khu kinh tế Dung Quất, liên kết không gian đô thị với Khu du lịch biển Mỹ Khê, biển Nghĩa An, cảng Sa Kỳ và tuyến kinh tế ven biển của tỉnh Quảng Ngãi.
Định hướng thành phố Quảng Ngãi được phát triển theo 4 vùng chức năng cơ bản, bao gồm: Vùng trung tâm thành phố, vùng mặt tiền bờ sông, vùng công viên sinh thái và vùng bờ biển.
Để thực hiện đúng định hướng phát triển của thành phố Quảng Ngãi, tôi xin nêu 6 nhóm giải pháp chủ yếu mà tỉnh đã và đang triển khai:
Một là, thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch, trong đó chú trọng đến việc tổ chức lập và khớp nối quy hoạch chi tiết trung tâm các đô thị đến tỉ lệ 1/500, đặc biệt là các khu chức năng quan trọng của đô thị nhằm phục vụ công tác quản lý và việc phát triển không gian cảnh quan đô thị.
Hai là, tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị để góp phần hoàn thiện không gian cảnh quan đô thị, trong đó, kết hợp đầu tư xây dựng mới với chỉnh trang, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng và sử dụng có hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng hiện có.
Ba là, phát triển mạnh các ngành kinh tế, nhất là dịch vụ nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tích cực, bảo đảm môi trường đô thị trong sạch và bền vững; vận dụng tối đa các cơ chế, chính sách ưu đãi hiện hành để kêu gọi, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, góp phần tăng nguồn thu ngân sách.
Bốn là, tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đô thị như đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển đô thị. Từng bước hoàn thiện và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý đô thị kết hợp với công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia vào quá trình quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị.
Năm là, huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển đô thị và tạo những điều kiện thông thoáng cho việc phát triển thị trường bất động sản địa phương. Trong đó, đẩy mạnh việc huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp tham gia xây dựng hạ tầng đô thị, xem đây là nguồn lực chủ yếu để đầu tư phát triển đô thị, thực hiện tốt phương châm "Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân cùng làm". Đồng thời, xác định các dự án chiến lược đối với đô thị để ưu tiên bố trí vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ nhà nước cho các dự án này theo tỉ lệ hợp lý.
Sáu là, tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ngang tầm với yêu cầu quản lý và phát triển đô thị trong tình hình mới. Đội ngũ cán bộ chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành về quản lý đô thị, đảm bảo đủ phẩm chất, trình độ, năng lực thực tiễn để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu cho chính quyền đô thị trong công tác quy hoạch, quản lý xây dựng và phát triển đô thị.
Phóng viên: Ngư dân Quảng Ngãi đã có được một mùa bội thu trong năm 2011. Xin đồng chí Chủ tịch cho biết những nỗ lực mà chính quyền tỉnh đã và sẽ làm để trợ giúp cho ngư dân vượt qua khó khăn, thách thức tiếp tục bám biển quê hương ?
Chủ tịch Cao Khoa: Năm 2011, ngư dân Quảng Ngãi được mùa, sản lượng đánh bắt cao, thu nhập và đời sống của ngư dân có phần cao hơn các năm trước. Có được như vậy là do trong những năm qua, thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước theo Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 và Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ, ngư dân được hỗ trợ dầu, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thuyền viên, đóng tàu mới, thay máy mới… ngư dân rất phấn khởi, tin tưởng sự hỗ trợ của Đảng và Chính phủ, cho nên ngư dân đã tăng cường đầu tư đóng mới, cải hoán tàu cá có công suất lớn để đánh bắt xa bờ. Chỉ trong 2 năm qua, số lượng/công suất tàu thuyền toàn tỉnh tăng từ 5.600 chiếc/470.000 CV năm 2008 lên 5.700 chiếc/634.000 CV hiện nay; công suất bình quân tăng nhanh từ 84CV/chiếc lên tới 111 CV/chiếc, cho thấy năng lực đánh bắt xa bờ của ngư dân trong thời gian gần đây tăng lên nhanh chóng.
Đặc biệt trong năm 2011, ngư dân đã đầu tư mua sắm được nhiều máy tầm ngư hiện đại từ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước thông qua chương trình khuyến ngư cũng như ngư dân tự đầu tư vốn để mua sắm, cho nên các tàu đánh bắt cá nổi như lưới vây, kể cả vây ban ngày và vây ban đêm đều có sản lượng đánh bắt cao.
Trong 2 năm qua, UBND tỉnh đã có những cơ chế chính sách hỗ trợ kinh phí cho ngư dân bị thiệt hại do thiên tai, do gặp các rủi ro trong quá trình sản xuất trên biển, tuy kinh phí hỗ trợ không phải là nhiều nhưng là nguồn động viên, cổ vũ rất lớn để họ yên tâm, vay vốn đầu tư đóng mới, khôi phục lại tàu thuyền để liên tục bám biển sản xuất.
Để tạo điều kiện cho việc đánh bắt của ngư dân có hiệu quả, ổn định lâu dài; tiếp tục những thành quả đạt được của năm 2011, trong năm 2012 và những năm tới tỉnh Quảng Ngãi phải thực hiện mấy nhiệm vụ như sau:
- Vận động thành lập các HTX dịch vụ và đánh bắt hải sản xa bờ nhằm liên kết nhiều chủ tàu cá với nhau để tạo thành sức mạnh trong quá trình sản xuất trên biển, trong kinh doanh dịch vụ hậu cần phục vụ đánh bắt, tránh sự lũng đoạn của tư thương; đồng thời tạo sức mạnh đối phó với thiên tai và rủi ro trên biển.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho chủ tàu và ngư dân tiếp cận được với các nguồn vốn để đầu tư đóng mới tàu cá, mua sắm các trang thiết bị ngư cụ hiện đại để tăng năng suất đánh bắt hải sản.
- Xây dựng trình Chính phủ cho phép thực hiện thí điểm Đề án đội tàu đánh cá vỏ thép có công suất lớn, trang thiết bị hiện đại trong đánh bắt và bảo quản hải sản, giảm sự xuống cấp chất lượng của hải sản trong quá trình khai thác dài ngày trên biển.
- Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng cảng cá, bến cá, luồng vào cảng, vũng neo đậu tàu cá một cách đồng bộ nhằm phát huy hiệu quả các công trình đầu tư, thu hút tàu cá ngư dân về bến trong tỉnh.
- Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với ngư dân một cách thuận lợi và thiết thực hơn nữa.
Phóng viên: Đồng chí Chủ tịch có những kỳ vọng gì cho tỉnh Quảng Ngãi trong năm Nhâm Thìn?
Chủ tịch Cao Khoa: Với những chuyển động tích cực trong hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh Quảng Ngãi trong năm qua, có thể đưa ra dự báo rằng năm 2012 có thể sẽ là năm mở đầu cho một làn sóng đầu tư mới, thể hiện ở các nhân tố sau đây:
Thứ nhất, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo Khả thi chi tiết dự án mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, nâng công suất từ 6,5 triệu tấn/năm hiện nay lên 9,5 – 10 triệu tấn/năm. Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung hỗ trợ trong phạm vi trách nhiệm của địa phương để dự án có thể hoàn thành vào năm 2016 hoặc 2017. Việc nâng cấp và mở rộng Nhà máy lọc dầu sẽ kéo theo sự hình thành Tổ hợp hóa dầu - hoá chất, và nếu có thêm sự vào cuộc của dự án điện khí thì Dung Quất sẽ nhanh chóng trở thành Trung tâm lọc hoá dầu quốc gia như chủ trương của Chính phủ.
Thứ hai, những khởi động ban đầu của Dự án Nhà máy nhiệt điện Sembcorp (Singapore) và Dự án Tổ hợp Khu Công nghiệp – Khu đô thị, Thương mại của Công ty TNHH Liên doanh Việt Nam – Singapore sẽ mở ra triển vọng rất lớn cho tỉnh Quảng Ngãi trong thu hút các dự án công nghiệp nhẹ và dự án dịch vụ.
Thứ ba, tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước thực hiện kế hoạch mở rộng KKT Dung Quất về phía Nam, trọng tâm là hình thành Tổ hợp công nghiệp nặng Dung Quất II gắn với Cảng nước sâu Dung Quất II. Đây là một kế hoạch lâu dài, nhưng công việc chuẩn bị ngay từ bây giờ cũng cần phải hết sức khẩn trương bằng việc ưu tiên nhiều nguồn lực khác nhau, để sẵn sàng đón nhận cơ hội đầu tư khi nền kinh tế thế giới sẽ hồi phục vào những năm tới.
Thứ tư, mặc dù KKT Dung Quất hiện hữu trong thời gian qua chưa được sôi động như trước đây, nhưng một số dự án gặp khó khăn cũng đang tập trung tháo gỡ, một số dự án đang hoàn tất thủ tục để có thể triển khai xây dựng trong năm 2012 và những năm tới. Nhờ đó, KKT Dung Quất hiện hữu sẽ tiếp tục được hoàn thiện và phát triển, làm tiền đề và động lực cho sự phát triển của KKT Dung Quất II.
Phóng viên: Cảm ơn đồng chí Chủ tịch.
>>Các địa phương miền Trung- Tây Nguyên với kỳ vọng năm Rồng
>>Thừa Thiên Huế: Hướng tới trung tâm du lịch lớn của quốc gia
>>Quảng Nam: Năm mới, chuyển biến xây dựng nông thôn mới