Kinh tế
20/12/2011 9:46:00 AM
Hội nghị nghiệm thu dự án "Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, có xét đến năm 2025”
IRV - Ngày 03/11/2011, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội nghị nghiệm thu dự án "Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, có xét đến năm 2025”. Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng chủ trì Hội nghị nghiệm thu.

Tham dự Hội nghị có đại diện của Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ VHTT&DL, Bộ Tài nguyên & Môi trường và đại diện các Cục, Vụ, Viện của Bộ Công Thương. 

Trong giai đoạn 2006-2010, Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long (KTTĐĐBSCL) có tốc độ phát triển khá, giá trị sản xuất công nghiệp của Vùng năm 2005 đạt 25.092 tỷ đồng, năm 2010 đạt 52.611 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân cùng thời kỳ là 15,96%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân GTSXCN cả nước. Sản lượng các sản phẩm chủ yếu của vùng KTTĐĐBSCL đều tăng. Năm 2010, toàn Vùng chế biến gần 543.703 tấn thủy sản các loại, trong đó có hơn 105.500 tấn tôm đông lạnh; Sản lượng nước mắm toàn Vùng khoảng 49,37 triệu lít; Sản lượng lương thực xay xát khoảng 11.523,5 nghìn tấn; Sản lượng thức ăn gia súc là 104,49 nghìn tấn; Sản lượng bánh kẹo đạt 7.060 tấn... 

Sự phát triển công nghiệp của vùng KTTĐĐBSCL chịu ảnh hưởng và tác động của sự phát triển chung của các vùng kinh tế cả nước, trước hết là vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đây là hai vùng kinh tế lớn, vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm, vừa là đối tác đầu tư phát triển quan trọng của vùng KTTĐĐBSCL. Vùng KTTĐĐBSCL là dư địa lớn để phân bổ lại phát triển công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các ngành công nghiệp vệ tinh của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là địa bàn thu hút các cơ sở dệt may, chế biến nông sản thực phẩm từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp đóng tàu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, vận tải và các ngành công nghiệp khác. Vùng KTTĐĐBSCL có thể hợp tác trong phát triển đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ: Phối hợp với các cơ sở đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ của vùng Đông Nam Bộ trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ; Xây dựng các phân viện, các trường đại học tại các tỉnh trong vùng KTTĐĐBSCL; Xây dựng các trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, các mô hình nông nghiệp công nghệ cao; Hợp tác về cung cấp lao động giữa vùng KTTĐĐBSCLvới tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. 

Mặc dù có nhiều tiềm năng về sản xuất lương thực, thủy sản, trái cây… nhưng trong thời gian qua, thu hút đầu tư vào vùng KTTĐĐBSCL, nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhiều hạn chế do hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội của vùng KTTĐĐBSCL còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực, các chỉ số về giáo dục, đào tạo, dạy nghề trong vùng KTTĐĐBSCL còn thấp hơn so với mức bình quân chung của cả nước cũng là một điều kiện không thuận lợi so với các vùng khác. Trong giai đoạn tới, để tăng cường khả năng cạnh tranh của vùng KTTĐĐBSCL, ngoài việc đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để giảm chi phí vận chuyển, đào tạo lao động… cần thiết phải có các chính sách ưu đãi khác cho vùng KTTĐĐBSCL, nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư xây dựng Vùng thành một trong những vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước. 

Mục tiêu phát triển công nghiệp vùng KTTĐĐBSCL đến năm 2020 là xây dựng Vùng có nền công nghiệp phát triển, đóng vai trò là hạt nhân tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Tây Nam bộ. 

Một số định hướng cơ bản phát triển công nghiệp vùng KTTĐĐBSCL đến năm 2020 như sau: 

- Tăng cường khai thác lợi thế về nguồn lao động dồi dào, điều kiện đất đai và nguyên liệu tại chỗ, nhất là nguồn nguyên liệu nông sản, thủy hải sản phục vụ công nghiệp chế biến. Tập trung phát triển một số ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh về nguyên liệu tại chỗ như chế biến nông sản, thủy hải sản và lợi thế cạnh tranh về lao động, mặt bằng so với địa bàn vùng KTTĐ phía Nam, như: dệt may, giày dép; Tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư để phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao hơn như cơ khí, thiết bị điện, điện tử; 

- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các ngành, doanh nghiệp công nghiệp trong Vùng với các địa phương khác để sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh sản phẩm công nghiệp. Hình thành sự phân công sản xuất, tham gia chế tạo trong từng công đoạn sản phẩm; 

- Phát triển các cụm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp để phục vụ nhu cầu sản xuất công nghiệp ở nông thôn nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW 7 về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh tầm quan trọng của KTTĐĐBSCL trong chiến lược phát triển công nghiệp cả nước. Thứ trưởng cho rằng những ý kiến đóng góp của các đại biểu, các nhà khoa học cho "Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, có xét đến năm 2025" sẽ góp phần giúp Vùng KTTĐĐBSCL phát triển bền vững hơn trong giai đoạn tiếp theo, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Kiều Ly - Viện NCCLCSCN
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều