Kinh tế
15/11/2011 2:55:00 PM
Tái cấu trúc doanh nghiệp với phân tích, lựa chọn mô hình hiện hữu ở một số quốc gia
IRV - Tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp là trọng tâm được nhấn mạnh trong nhiều quyết sách của Đảng, Quốc hội và Chính phủ nhằm ổn định tình hình kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững đất nước. Từ mô hình kiến trúc doanh nghiệp ở một số quốc gia và kiến giải của các nhà phân tích, bài viết đề cập đến một số khía cạnh cần được các nhà quản lý quan tâm trong tìm kiếm giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp nước nhà trong thời gian tới.
Những năm thuộc thập niên 1980, kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ cùng với bùng nổ công nghệ thông tin với nhiều doanh nghiệp được thiết lập theo mô dun phù hợp nhằm tiếp nhận nhanh chóng tiến bộ kỹ thuật. Cũng thời gian này, nước Nhật trong tình trạng suy thoái và khủng hoảng ngân hàng, song năng lực sản xuất được xây dựng từ triều đại Meiji (giữa thế kỷ XIX) đã giúp nền kinh tế không bị suy giảm đột ngột mà vẫn giữ được sự ổn định so với nhiều bình luận chỉ trích. Phân tích mô hình cấu trúc doanh nghiệp của những nước này, các nhà nghiên cứu đã rút ra những khác biệt phụ thuộc vào đặc thù và thực tiễn từ mỗi quốc gia.

Cấu trúc doanh nghiệp từ sự khác biệt giữa các ngành hàng
Trong kiến trúc kinh doanh (Business Architecture), Giáo sư Fujimoto nhìn nhận, tất cả mọi ngành, bao gồm cả ngân hàng, xây dựng, viễn thông, điện tử hay ô tô, xe máy....đều có khác biệt so với những ngành khác nhau; cách xem xét thiếu quan tâm đến đặc thù thường đem lại những kết quả không đủ tin cậy (Fujimoto 2001). Để đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi ngành hàng, các nhà phân tích thường sử dụng khái niệm kiến trúc kinh doanh.

Lý thuyết kiến trúc kinh doanh được Fujimoto đề cập liên quan đến sự phối hợp giữa các thành tố trong một ngành hàng; đây là khái niệm cơ bản nhằm đạt được sự hài lòng của con người hoạt động trong bất kỳ một hệ thống nào. Quan điểm này đòi hỏi sự phân chia hợp lý các bộ phận, chức năng được phân bổ đến từng bộ phận và sự phối hợp của từng bộ phận để mang lại hiệu quả cao nhất (Fujimoto 2001).

Trong thực tiễn, quan hệ giữa những bộ phận chức năng trong cùng hệ thống thường phức tạp, đòi hỏi phải có những lựa chọn để định hướng thiết kế sản phẩm khác nhau. Hai chiều hướng nổi bật đó là thiết kế sản phẩm theo mô đun kiến trúc và kiến trúc tích hợp. Kiến trúc mô đun thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận tiêu chuẩn hóa để dễ dàng kết nối. Ngược lại, kiến trúc tích hợp lại thể hiện mối quan hệ phức hợp của những bộ phận được chấp nhận và việc cải thiện cần thông qua nhiều thử nghiệm.

Nhìn chung, kiến trúc mô đun cho phép tiếp nhận nhanh kết quả với chi phí thấp còn kiến trúc tích hợp lại hướng tới việc nâng cao chất lượng lâu dài. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, máy tính để bàn là một sản phẩm điển hình của sản xuất theo kiến trúc mô đun. Kiến trúc này cho phép những bộ phận của máy tính có thể sản xuất ở nhiều doanh nghiệp và tại nhiều nước khác nhau; nhưng lại rất dễ dàng kết hợp để tạo nên một sản phẩm hoàn hảo. Trong khi đó, ngành sản xuất xe hơi với mục tiêu tạo được những dòng xe di chuyển êm ái và thuận tiện, tiết kiệm nhiên liệu đồng thời với đảm bảo an toàn cao.. lại đòi hỏi việc sản xuất cần đi theo những mô hình tích hợp.

Cấu trúc doanh nghiệp ở một số nước điển hình
Tính phù hợp của sản phẩm sản xuất với kiến trúc doanh nghiệp không quá cứng nhắc mà điều cần là sự kết hợp linh hoạt để phù hợp với chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn khác nhau của từng doanh nghiệp, tại mỗi quốc gia; trong quá trình kỹ thuật và những biến động nhu cầu. Nhà lắp ráp thường vận dụng kiến trúc mô đun để tạo ra số lượng lớn sản phẩm hoàn chỉnh; còn các nhà cung cấp lại thường tuân thủ theo mô hình tích hợp để cung cấp sản phẩm sâu rộng hơn.

Phân tích hoạt động của nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm hoàn chỉnh ở Mỹ, Nhật Bản và Trung Hoa; các nhà nghiên cứu có chung nhận xét, Nhật Bản là quốc gia áp dụng phổ biến mô hình kiến trúc kinh doanh tích hợp. Tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp áp dụng mạnh mẽ mô hình kiến trúc mô đun. Trung Quốc là nơi vận dụng có kết quả kiến trúc mô đun, song lợi thế cạnh tranh có được lại nhờ vào thâm dụng lao động chứ không phải thâm dụng trí tuệ như ở Hoa Kỳ (Keini chi Ohino 2010).

Sự khác biệt về mô hình kiến trúc kinh doanh giữa các quốc gia được nhìn nhận từ các khía cạnh năng lực tổ chức của doanh nghiệp và năng lực này nhiều khi lại chịu ảnh hưởng từ những kinh nghiệm lịch sử. Sau thế chiến thứ II, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải đi vào cạnh tranh phát triển trong điều kiện nguồn lực hạn chế cả về tài chính, con người và tiềm lực vật chất khác. Thực tế này dẫn đến họ phải nghiên cứu để sử dụng nguồn lực trong dài hạn với những mô hình kiến trúc doanh nghiệp và thương hiệu theo một cách riêng, khác với hệ thống của nhiều nước; đó là sự kế thừa những kế hoạch phát triển kinh tế trong thời kỳ chiến tranh. Các doanh nghiệp Nhật không theo đuổi những mốt nhất thời mà cố gắng thích ứng năng lực tổ chức với thiết kế kiến trúc sản phẩm sản xuất, nhằm thu lợi hiệu quả thông qua bán sản phẩm tích hợp, tạo ra và nâng cao năng lực tổ chức còn thiếu bằng học hỏi kinh nghiệm từ doanh nghiệp và nhiều quốc gia khác (Fujimoto 2001).

Trong xây dựng mô hình kiến trúc kinh doanh tích hợp, Nhật Bản quan tâm đến những nét nổi bật của mô hình mô đun; việc vận dụng mô hình này được tiến hành trên cơ sở đảm bảo chất lượng sản phẩm. Họ đã nhìn nhận, nếu vội vàng đầu tư vào Trung Quốc đơn giản vì đối thủ cạnh tranh hoặc giá nhân công thấp, có thể dẫn đến kết quả năng suất lao động sẽ thấp cả ở Trung Quốc và Nhật Bản. Vấn đề được đặc biệt quan tâm đó là là làm rõ điểm mạnh, thế yếu của từng loại hình kiến trúc cụ thể để hình thành doanh nghiệp.

Theo Fujimoto,Trung Quốc và Hoa Kỳ đều vận dụng kiến trúc mô đun, nhưng trong triển khai thực hiện họ đã có những khác biệt cơ bản về công nghệ và lương bổng. Hai quốc gia này là những đối tác bổ sung lẫn nhau trong sản xuất sản phẩm mô đun hóa. Khác với Hoa Kỳ, Nhật Bản là nước có kiểu kiến trúc tích hợp với mức tiền lương và trình độ công nghệ đều cao.Trong bối cảnh mới của nền kinh tế toàn cầu, Nhật Bản đang nỗ lực tìm kiếm và xây dựng những quan hệ đối tác quốc tế mà một trong những điểm hướng đến là các nước trong khu vực ASEAN. Nếu học được những kinh nghiệm, có sự chuẩn bị với tầm nhìn rộng và khát vọng mạnh mẽ về sản xuất những sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu; nhiều khả năng các nước khu vực này có thể trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp Nhật Bản trong sản xuất sản phẩm tích hợp, có nhiều khác biệt so với sản phẩm của Trung Quốc trên thị trường cạnh tranh quốc tế đầy biến động.

Đôi dòng suy ngẫm
Khả năng tích hợp sản phẩm của Nhật Bản với các nước trong khu vực ASEAN có triển vọng mở ra; song để tham gia được vào chuỗi giá trị sản phẩm này lại là quá trình không đơn giản. Cho đến nay trình độ kỹ thuật, kỹ năng lao động và thái độ cần thiết để đáp ứng phong cách sản xuất Nhật Bản của phần đông doanh nghiệp nước ta đang còn có khoảng cách quá xa. Thực tiễn diễn ra đòi hỏi các nước ASEAN phải sớm chuẩn bị, tích cực cải tổ khu vực doanh nghiệp để có được năng lực nội sinh đủ khả năng duy trì, điều chỉnh,sửa chữa và nâng cấp máy móc thiết bị; nâng cao trình độ kỹ năng lao động... theo hàm nghĩa phải thoát ra khỏi mô hình gia công, lắp ráp; xây dựng đủ năng lực để tham gia sâu và thiết thực hơn vào chuỗi sản phẩm tích hợp. Có lẽ đây cũng là vấn đề mấu chốt trong tái cấu trúc doanh nghiệp hướng tới nâng cấp quan hệ hợp tác với doanh nghiệp Nhật bản và rộng hơn là quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.

Tài liệu tham khảo:
Takahiro Fujimoto, 2001 Business Architecture: Strategie Design of Products, Organization and Processes...........Yuhikaku 2001;
Keinichi Ohino, Phát triển kinh tế Nhật Bản Con đường đi lên từ một nước đang phát triển;
VDF, Hà Nội tháng 5/2010
Trung Đức
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều