IRV - Sau 01 năm thực hiện Chỉ thị 21/CT-BCT ngày 26/8/2010 về việc thực hiện các biện pháp tăng cường sử dụng thiết bị, máy móc, vật tư hàng hoá sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu, có thể thấy, Chỉ thị 21 đã góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển... Nhưng theo nhận định của Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang thì kết quả đạt được vẫn chưa như mong đợi, bởi còn hạn chế do nhiều nguyên nhân.
Doanh nghiệp cùng vào cuộc
Sau 01 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 21, ngày càng nhiều các doanh nghiệp trong ngành có nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã có những giải pháp ưu tiên sử dụng vật tư, thiết bị trong nước. Tỷ lệ hàng hóa trong nước được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh và các dự án đầu tư ngày càng tăng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cơ khí đã và đang tích cực triển khai các hoạt động tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất để cung ứng cho thị trường trong nước các sản phẩm máy móc, thiết bị đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước.
Đại diện Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho biết, Vinacomin đã thực hiện một cách nghiêm túc và tích cực, đồng thời tăng cường quản lý để không nhập khẩu, hoặc hạn chế nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu mà trong nước đã sản xuất được. Một số dự án đã hoàn thành và đưa vào sản xuất có hiệu quả. Vinacomin đang xây dựng Quy hoạch phát triển cơ khí của Tập đoàn đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025, trọng tâm là chuyển đổi công nghệ từ “cơ khí sửa chữa” thành “cơ khí chế tạo”, bên cạnh việc hiện đại hóa cơ khí sửa chữa là ngành sản xuất chính, thì phát triển chế tạo các sản phẩm cơ khí có chất lượng, phục vụ sản xuất. Tập đoàn đã đề ra một số mục tiêu đến năm 2015 đối với chế tạo phụ tùng sản phẩm như: Cung cấp từ 60-65% nhu cầu phụ tùng của ngành Than – Khoáng sản; Cung cấp từ 50-55% nhu cầu bổ sung và thay thế thiết bị của toàn Ngành; Phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa đến 50-60% vào năm 2015.
Với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), chú trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm... Đặc biệt, PVN đã hạ thủy giàn khoan tự nâng 90m nước là công trình cơ khí trọng điểm quốc gia, lần đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam do PVN làm chủ đầu tư và Công ty Cổ phần Chế tạo Giàn khoan Dầu khí (PV Shipyard) là đơn vị thành viên của Tập đoàn làm tổng thầu EPC.
Phát biểu tại Hội nghị, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, năm 2010, tỷ lệ sử dụng hàng hóa trong nước đạt 51,8%. Năm 2011, dự kiến tỷ lệ sử dụng hàng hóa trong nước đạt 45,7%, giá trị đạt 32.882.41 triệu đồng. Các dự án của Tập đoàn đều có tỷ lệ sử dụng hàng hóa trong nước khá cao như: Dự án thủy điện Bản Chát 68,1%; thủy điện Huội Quảng 81,91%...
Đối với Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam (Vinachem), tỷ lệ sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước trong sản xuất kinh doanh và trong dự án đầu tư triển khai năm 2010 đạt từ 62-90%.
Tập đoàn Dệt may Việt Nam, năm 2010, tổng giá trị máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu Tập đoàn đã nhập khẩu và mua trong nước 10.061,478 tỉ đồng, trong đó tỷ lệ máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước là 32,01%, tương đương 3.220,47 tỷ đồng. Năm 2011, dự kiến tổng giá trị máy móc, vật tư hàng hóa các đơn vị thành viên Tập đoàn sẽ sử dụng trong sản xuất kinh doanh khoảng 10.177 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ giá trị máy móc, vật tư hàng hóa trong nước sản xuất được là 38,46% tương đương 3.914 tỷ đồng.
Vướng mắc về luật và vốn
Mặc dù các biện pháp tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu trong nước sản xuất được trong công tác đấu thầu đã được triển khai quyết liệt trong một năm qua, nhưng tỷ trọng sử dụng thực tế tại các dự án đầu tư mới đạt con số khiêm tốn 18,6%. Đây cũng chính là điều mà nhiều chuyên gia trong ngành trăn trở. Ông Nguyễn Văn Thụ - Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cho rằng, xuất phát từ những bất cập trong các quy định của Luật Đầu thầu, những hạn chế trong cơ chế tổng thầu EPC đã “mở cửa” cho các nhà thầu nước ngoài dễ dàng vào các dự án đầu tư của Việt Nam trong khi “trói chân” các doanh nghiệp trong nước. Hiện hầu hết các dự án điện (khoảng 20 dự án), xi măng, hóa chất đã rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, do họ có lợi thế cạnh tranh về giá. Đại diện một doanh nghiệp cho rằng, cần có “thang điểm” cho các doanh nghiệp sản xuất vật tư thiết bị trong nước trong đấu thầu các dự án…
Đa số đại diện của các tập đoàn, tổng công ty đều cho rằng, khó khăn nhất vẫn là vốn đầu tư. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam vắng bóng ở các sân chơi. Tổng giám đốc Tổng công ty Điện tử tin học - Lưu Hoàng Long nhận định, hầu hết các dự án đều thiếu vốn trong nước và chủ đầu tư phải vay phần lớn ở nước ngoài. Chính vì thế, việc lệ thuộc vào các tổ chức cho vay về nhà thầu EPC hoặc cung cấp thiết bị hàng hóa từ nước ngoài. Phó Giám đốc Công ty TNHH Hệ thống kỹ thuật ứng dụng ATS, ông Trần Anh Thái chia sẻ, lãi suất vay của các công ty tư nhân như ATS đều ở mức 22-25%/năm, thậm chí lên tới 28%/năm. Trong khi đó, các nhà thầu nước ngoài trong khu vực và trên thế giới thường được vay vốn với lãi suất cực thấp 1-2%/năm và còn được Chính phủ cho vay không lãi suất trong 10 năm để mở rộng thị trường như trường hợp của Tập đoàn sản xuất thiết bị viễn thông lớn nhất Trung Quốc là Huawei. Ông Trần Anh Thái cho biết, việc hồ sơ mời thầu đặt ra yêu cầu về kinh nghiệm quá cao, nhất là kinh nghiệm tài chính đã tạo ra “rào cản” với các nhà thầu trong nước. Và thực tế, ATS đã không thể tham dự đấu thầu cung cấp thiết bị cho trạm biến áp 500 kV Hạ Hòa vì chủ đầu tư là EVN đã đưa ra yêu cầu năng lực tài chính với nhà thầu lên tới 7,8 triệu USD - quá cao so với yêu cầu 3 triệu USD ở dự án tương tự là trạm 500 kV Sơn La.
Tháo gỡ khó khăn, quyết liệt thực hiện Chỉ thị 21
Tại Hội nghị, Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã kiến nghị lên Chính phủ 6 giải pháp nhằm giúp ngành Cơ khí Việt Nam ghi điểm trên sân nhà; trong đó có cơ chế chính sách áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo đó, Chính phủ cần chỉ đạo các chủ đầu tư tách các hạng mục công việc thành các gói thầu độc lập, giao thiết kế chế tạo trong nước với 10 hạng mục như: Hệ thống cung cấp than, thu hồi tro bay, hệ thống làm mát tuần hoàn, trạm phân phối và máy biến áp chính, kết cấu thép đi kèm với gói thiết bị. Đặc biệt, để hỗ trợ cho sản phẩm cơ khí trong nước chiếm lĩnh được thị trường nội địa, Bộ Công Thương cần sớm ban hành tiêu chí đánh giá cụ thể về hàng hóa sản xuất tại Việt Nam; trong đó quy định tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng cụ thể và những thiết bị chủ yếu phải do Việt Nam sản xuất thực sự. Ngoài ra, với các thiết bị, máy móc, vật tư hàng hóa đã sản xuất được ở trong nước, Nhà nước chỉ nên khuyến khích áp dụng đấu thầu trong nước, một số trường hợp đặc biệt cần áp dụng chỉ định thầu.
Ông Vũ Văn Kha - Tổng giám đốc Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE) nhận định, thiết bị công nghiệp vẫn là một thị trường lớn, đầy tiềm năng, nếu chỉ cần đáp ứng từ 20-30% nhu cầu của thị trường này thì ngành Cơ khí, trong đó có MIE đã có thể có được đơn hàng khoảng 1 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, để có thể đạt được con số ấy cần có cơ chế, chính sách hợp lý và nhất là cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Hiện nay, chúng ta đã tham gia vào sân chơi quốc tế, nhưng bất cứ nước nào cũng có chính sách bảo hộ riêng cho hàng hóa của họ. Theo đó, Nhà nước cần xây dựng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ đối với một số sản phẩm trong nước đã sản xuất được.
Hiện, khoảng 83% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu rơi vào chính nhóm máy móc thiết bị vật tư sản xuất. Vì vậy, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang cho rằng, nếu thời gian tới, chúng ta thực hiện tốt Chỉ thị 494/CT-TTg và Chỉ thị 21 sẽ kiềm chế nhập siêu tốt hơn nữa. Để làm được điều đó, trước hết, các chủ đầu tư cần gương mẫu, quyết liệt thực hiện nghiêm túc Chỉ thị. Cần rà soát lại các dự án, bóc tách rõ ràng để xem xét cái gì mua được trong nước, cái gì phải nhập khẩu. Qua đó sẽ can thiệp kịp thời, nếu trong nước đã sản xuất được mà vẫn nhập khẩu thì sẽ có biện pháp cứng rắn để hạn chế. Mặc dù Nhà nước có chính sách bảo hộ hàng trong nước, nhưng bản thân nhà sản xuất phải tự mình vươn lên, đảm bảo chất lượng của thiết bị. Thứ trưởng cũng lưu ý nhà sản xuất cũng phải thường xuyên quan tâm đến nguồn thông tin từ Bộ Công Thương để từ đó nắm bắt, đăng ký, đưa vào danh mục để nhận hỗ trợ từ các Chương trình.
>>
Làm gì để tiêu thụ máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được