Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam từ những góc nhìn phân tích đa chiều
IRV - Từ yêu cầu hội nhập quốc tế,việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đòi hỏi công nghiệp nước ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó, công nghiệp hỗ trợ có vai trò quan trọng nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ công nghệ, tạo dịch vụ hậu cần hiệu quả để mở rộng và thực hiện liên kết công nghiệp rộng hơn. Bài viết đề cập đến một số vấn đề về công nghiệp hỗ trợ từ những góc nhìn khác nhau.
Khái niệm công nghiệp hỗ trợ và hiện trạng nước ta
Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (susono sangyo) được doanh nghiệp và chuyên gia Nhật Bản đưa ra vào thập niên 1980 để chỉ sự thiếu vắng các nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng phục vụ sản xuất công nghiệp ở khu vực Đông Nam Á (Xuân Thủy 2007). Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty IBC Việt Nam, Kyoshiro Ichikawa xác định, công nghiệp hỗ trợ (supporting Industry-SI) là các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến nguyên liệu, cấu phần, bộ phận và bán thành phẩm cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp phương tiện sản xuất,công cụ sản xuất hoặc hàng tiêu dùng (Kyoshiro Ichikawa 2011).
Thực tiễn chỉ ra, trong lắp ráp sản phẩm, phụ tùng và linh kiện có thể chiếm từ 80% đến 90% chi phí sản xuất. Nếu công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ giúp ngành công nghiệp trong nước nâng cao được năng lực cạnh tranh nhờ vào cung cấp chất lượng và chi phí giao hàng (QCD) tốt hơn.
Các nhà hoạch định chính sách nước ta nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ trong xây dựng chính sách công nghiệp. Tuy nhiên, vai trò này chưa được nhận thức sâu rộng trong lãnh đạo các cấp, cộng đồng xã hội và giới doanh nghiệp nên nhiều vấn đề cốt lõi chưa được quan tâm đúng mức, thời cơ bị bỏ lỡ và công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang còn có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực.
Trình độ công nghiệp của Việt Nam được đánh giá còn rất thấp so với các nước trong khu vực, chỉ bằng Trung Quốc vào những năm 1980, Malaysia những năm 1970 hoặc tương đương với trình độ phát triển của Hàn Quốc trong thập niên 1960 (VDF, JICA 2011)...
Sau hơn 10 năm tiến hành, đến nay tỷ lệ nội địa hóa lắp ráp ô tô mới đạt từ 5% đến 10%; nhiều cơ sở chỉ tìm được những sản phẩm trong nước là xăm lốp, dây điện, khung ghế ngồi, bàn đạp chân ga, chân phanh, và ăng ten cho radio trong xe. Hầu hết cơ phận đều phải nhập khẩu từ động cơ đến các chi tiết, vật liệu đơn giản như vải bạt, da, mút ... cho đến ốc vít. Tình trạng tương tự cũng diễn ra trong ngành dệt may và da giày, bởi hầu hết sản phẩm làm ra cũng chỉ là gia công ở giai đoạn cuối.
Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam từ những góc nhìn khác biệt
Khi bàn về công nghiệp hỗ trợ, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Vũ Tiến Lộc bày tỏ, cho tới nay, bao bì carton, vỏ nhựa gần như là sản phẩm duy nhất mà doanh nghiệp có thể đóng góp cho ngành công nghiệp điện tử. Ông nói rõ thêm, công nghiệp hỗ trợ hiện đang là khâu yếu kém, chúng ta nói khá nhiều nhưng làm thì còn rất ít. Năm 2010, nhập siêu với Trung Quốc trên 12,7 tỷ USD, chủ yếu là thiết bị phụ kiện. Dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực, kim ngạch 6 tháng đầu năm 2011 đạt khá ấn tượng 6,16 tỷ USD; nhưng nguyên phụ liệu phải nhập trên 5,76 tỷ USD và giá trị gia tăng của ngành rất thấp...Đến nay, mạng lưới công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam chủ yếu vẫn là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tiêu chuẩn chất lượng giữa các nhà cung cấp linh kiện còn nhiều cách biệt; nhưng lại có rất ít liên kết. Mặt yếu là nước ta chưa tạo ra được chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng những dịch vụ tài chính, phi tài chính để có thể khai thác những lợi thế cạnh tranh để phát triển ngành công nghiệp này (Vũ Tiến Lộc 2011)
Tổng Lãnh sự Nhật Bản tại TP.HCM, Osamu Shiozaki cho biết, các DN Nhật làm ăn tại Việt Nam luôn than phiền về Việt Nam thiếu các nhà cung cấp phụ tùng và linh kiện, họ phải nhập khẩu từ nước ngoài khiến cho giá thành sản phẩm cao hơn từ 20 đến 70% so với sản xuất tại Trung Quốc (Sài gòn tiếp thị 2010). Theo cố vấn cao cấp của tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Hayashida Takayuki, thiếu công nghiệp hỗ trợ khó nuôi dưỡng được công nghiệp lắp ráp; nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam phần lớn do chi phí nhân công rẻ, nhưng khi chi phí này tăng cao, rất có thể, họ sẽ chuyển sản xuất sang nước khác, ở những nơi có nguồn nguyên, phụ liệu tốt hơn. Ông nhấn mạnh, vào năm 2015, khi hoàn toàn gỡ bỏ rào cản thuế quan với các nước ASEAN thì sẽ trở thành một cột mốc khá nguy hiểm đối với Việt Nam, bởi thay vì mở các cơ sở sản xuất tại đây, các nhà đầu tư lại có thể lựa chọn các điểm đến khác và Việt Nam sẽ biến thành nơi tiêu thụ hàng nhập khẩu (Lạc Phong, Anh Thư 2011).
Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Chiến lược & Chính sách Công nghiệp (IPSI) chỉ rõ: phần lớn phụ tùng, phụ kiện làm từ gang thép hay nhựa cho công nghiệp lắp ráp đều phải nhập khẩu. Năng lực kỹ thuật của nhà cung cấp trong nước nhìn chung còn rất thấp, chưa đáp ứng được đòi hỏi QCD, ít có khả năng cung cấp số lượng lớn với chất lượng ổn định. Từ áp lực cắt giảm chi phí, nhà sản xuất trong nước thiếu khả năng đầu tư trang thiết bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (IPSI 2008).
Báo cáo của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) tháng 01/2011 nhận xét, Quy hoạch tổng thể về công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 đã được thông qua vào năm 2007. Tuy nhiên, định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ còn quá rộng, bao trùm hầu hết các vấn đề liên quan đến toàn bộ chuỗi giá trị từ nguyên vật liệu đến marketing mà Việt Nam không thể giải quyết nhanh chóng với kinh nghiệm và nguồn lực còn nhiều hạn chế. Mặt khác, công nghiệp hỗ trợ được liệt kê cho từng ngành mà không tính đến sự trùng lặp và liên kết giữa các nhà sản xuất linh phụ kiện; đặc biệt việc gộp công nghiệp may mặc và giày dép có nhu cầu nguyên vật liệu rất đặc trưng vào cùng với công nghiệp cơ khí, điện, điện tử và ô tô càng làm tăng thêm khó khăn cho việc triển khai thực hiện (VDF, JICA 2011).
Liên quan đến vấn đề nhận thức, trong khi đại bộ phận doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thì các cơ quan chức năng từ cấp trung ương tới địa phương lại nặng về thu hút các doanh nghiệp lớn vào các khu công nghiệp. Các chương trình công nghiệp phụ trợ thường mang tính riêng lẻ, rời rạc; nhiều địa phương phát triển các khu và cụm công nghiệp theo hướng “lấp đầy”; trên thực tế là phủ kín bằng số lượng nhà máy nhưng lại thiếu các dịch vụ hạ tầng.
Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của nhiều nước cho thấy, trong thời gian đầu Chính phủ giữ vai trò rất quan trọng, trước hết là việc hình thành các chính sách. Quyết định về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ số 12/2011/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 02 năm 2011, được coi là tuyên bố chính thức của Chính phủ Việt Nam về sự ủng hộ dành cho công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, để thực hiện được quyết định này, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng và có những chính sách kỹ thuật cụ thể. Số đông doanh nghiệp cho rằng, những chính sách được đề ra nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hành động, nhất là tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp lớn FDI với nhà cung cấp trong nước để phát triển công nghiệp hỗ trợ (Vũ Tiến Lộc 2011).
Trên thực tế, đối tác nước ngoài chỉ hỗ trợ dựa trên những gì chúng ta đang có để cùng tham gia vào làm với họ, không bao giờ họ chuyển giao hết công nghệ hiện đại cho Việt Nam. Muốn sản xuất một sản phẩm nào đó, thì trước hết phải chọn nguyên vật liệu, quá trình công nghệ, những bước gia công cụ thể theo quy trình được tính toán rất cụ thể thì mới hy vọng có được chất lượng nhất định. Những vấn đề tưởng chừng hết sức đơn giản nhưng chưa được tính đến trong xây dựng chính sách như việc lắp ráp xe máy, không bao giờ họ để cho ta làm phần chế tạo động cơ (Phạm Ngọc Thăng 2011).
Ông Nguyễn Xuân Điền,Trưởng ban của công ty Samco chia sẻ, Samco có đủ khả năng đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất những sản phẩm hỗ trợ thay cho việc nhập khẩu, nhưng cái khó là ở đầu ra. Theo ông, mỗi năm Việt Nam chỉ tiêu thụ khoảng trên 100.000 xe của hơn 100 thương hiệu; nếu mở nhà máy sản xuất phụ kiện riêng sẽ rất lãng phí so với đi nhập của hãng chuyên về lĩnh vực này, bởi giá cả hợp lý và chất lượng lại cao hơn. Tuy nhiên, nhiều khi nhập cũng gặp khó khăn, có khi sản phẩm lắp ráp hoàn chỉnh chỉ thiếu một bộ phận lại phải chờ đợi nhiều ngày mới có thể xuất xưởng. Từ đây vấn đề lớn đặt ra là tầm nhìn chiến lược để xây dựng quy hoạch phát triển một cách hợp lý (Diễn đàn doanh nghiệp 15/7/2011).
Thay cho lời kết
Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp chính sách và kết quả phát triển công nghiệp của Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) nhận định, chính sách công nghiệp Việt Nam nói chung và công nghiệp hỗ trợ nói riêng còn tương đối sơ sài. Các danh mục chính sách hiện tại của Việt Nam kém hiệu quả hoặc là chưa có (VDF, JICA 2011).
Trước vô vàn khó khăn và những thách thức trong bối cảnh mới của hội nhập quốc tế và khu vực, giải pháp thiết thực đối với công nghiệp hỗ trợ nước ta cần được hình thành trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, tìm được thế mạnh và điểm yếu để xác định được những mặt hàng chủ lực có được lợi thế cạnh tranh trong hoạch định chính sách cụ thể chứ không thể dựa vào quyết tâm chính trị và sự lạc quan.