Phát triển toàn diện các Khu kinh tế ven biển
IRV - Cuối tháng 8 vừa qua, tại tỉnh Quảng Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước tổ chức Hội thảo khoa học cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế (KKT), Khu công nghiệp (KCN) ven biển và định hướng phát triển. Gần 30 báo cáo, tham luận của các Bộ, ngành, địa phương và cơ sở đã được trình bày. Trong bài viết này, tác giả xin tóm lược ý kiến các bản tham luận trong lĩnh vực KKT để bạn đọc tham khảo.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đi trước một bước
Theo Vụ quản lý các KKT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến nay cả nước đã có 15 KKT có tổng diện tích mặt nước của tất cả 15 KKT là hơn 662.000 ha, phân bố như sau:
-Vùng đồng bằng sông Hồng có 02 KKT, một ở Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) và một ở Đình Vũ - Cát Hải (TP Hải Phòng);
- Đồng Bằng Sông Cửu Long : 03 KKT là đảo Phú Quốc và cụm đảo An Thới (tỉnh Kiên Giang), KKT Định An (tỉnh Trà Vinh) và KKT Năm Căn (tỉnh Cà Mau);
- Duyên Hải Miền Trung: 10 KKT là Nghi Sơn (Thanh Hóa), Đông Nam (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Chu Lai (là KKT ra đời sớm nhất – 2003 ở Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Vân Phong (Khánh Hòa), Hòn La (Quảng Bình) và Nam Phú Yên (tỉnh Phú Yên).
Trong 7 tháng đầu năm nay, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định bổ sung vào Quy hoạch phát triển thêm ba KKT ven biển đến năm 2020 là Ninh Cơ (tỉnh Nam Định), Đông Nam (tỉnh Quảng Trị) và KKT ven biển Thái Bình (tỉnh Thái Bình), nâng tổng diện tích lên gần 722.000 ha (tương đương 7.218km2), bằng khoảng 2,2% tổng diện tích cả nước.
Sau quy hoạch, vấn đề lớn đầu tiên đặt ra đối với các KKT là đầu tư xây dựng kinh tế hạ tầng trong đó nặng nhất là mạng lưới giao thông cầu, đường, bến cảng, sân, kho, nhà xưởng. Đối với các KKT ven biển, xây dựng kết cấu hạ tầng đòi hỏi một khối lượng vốn từ Ngân sách trung ương (NSTW) là rất lớn. Trong bối cảnh đất nước còn khó khăn, ngân sách còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn tìm mọi cách huy động sức mạnh tổng hợp toàn xã hội, của các thành phần kinh tế cùng tham gia vào một số công trình hạ tầng KKT như đường trục, cảng, giao thông nội khu. Nhờ đó, một số KKT hiện đã có kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, cơ bản phục vụ được yêu cầu của nhà đầu tư như các KKT: Dung Quất, Chu Lai, Nghi Sơn. Trong năm kế hoạch 2011, tổng vốn hỗ trợ từ NSTW là 1.885 tỷ đồng, bố trí cho 14 khu kinh tế ven biển. Đến 30/06, tổng giá trị giải ngân đạt 800,75 tỷ đồng bằng 42% kế hoạch năm. Nhờ vậy trong bảy tháng đầu năm, các KKT ven biển của nước ta đã thu hút được 33 dự án đầu tư nước ngoài (kể cả các dự án tăng vốn, mở rộng sản xuất) với tổng vốn đạt hơn 500 triệu USD và 38 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn gần 66.000 tỷ đồng, tăng 14 % cùng kỳ năm 2010. Tính lũy kế, các KKT cả nước đã thu được 128 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư hơn 25 tỷ USD và 648 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn 536,8 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có một số dự án lớn và quan trọng được đặt tại các KKT: Nghi Sơn, Vũng Áng, Dung Quất với hàng loạt nhà máy và công trình lớn như nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, nhà máy đóng tàu Dung Quất, khu liên hợp gang thép, và cảng nước sâu Sơn Dương, nhà máy cơ khí nặng Doosan, các nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn, Vũng Áng, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong.
Kết quả sản xuất, kinh doanh bảy tháng đầu năm 2011 của các KKT đã có nhiều tín hiệu vui. Cụ thể doanh thu đạt hơn 4 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ 2010. Tương tự kim ngạch xuất khẩu là 340 triệu USD, tăng 20%, nộp ngân sách nhà nước gần 11.000 tỷ đồng (trong đó nhà máy lọc dầu Dung Quất nộp gần 8.000 tỷ đồng) tăng 18% so với cùng kỳ 2010 tạo việc làm mới cho hàng nghìn lao động trong độ tuổi…
Dự kiến đến hết năm 2011, các KKT thu hút vốn FDI được từ 1 - 1,2 tỷ USD và khoảng 95.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, tổng doanh thu năm đạt từ 8 - 8,5 tỷ USD, kim ngạch suất khẩu đạt 800 triệu USD, nhập khẩu dưới 900 triệu USD, đóng góp vào ngân sách nhà nước từ 16.000 - 18.000 tỷ đồng.
Định hướng phát triển
Chủ trương, quy hoạch phát triển các KKT giai đoạn tới là vẫn tiếp tục định hướng hoàn thiện, đồng bộ, quy mô lớn, để phát huy được vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Vì vậy, việc phát triển thêm hoặc mở rộng KKT phải được cân nhắc cẩn trận về bố trí nguồn lực, tiềm năng phát triển và lợi ích quốc gia.
Trong giai đoạn tới, từ cấp Trung ương tới cấp địa phương cần thống nhất quan điểm không nên phát triển thêm KKT mà cần tập trung cơ chế, chính sách, nguồn lực để nâng cao vai trò hiệu quả hoạt động của các KKT hiện có. Muốn vậy, trước mắt cần tiến tục xem xét xây dựng tiêu chí phân hạng, phân loại các KKT, từ đó xây dựng cơ chế, giải pháp thích hợp tập trung đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng nhất là đối với những KKT có nhiều tiềm năng, có như vậy các KKT phát triển đi trước một bước, tác động tích cực lan tỏa tới khu vực xung quanh.
Đối với các KKT có trong Quy hoạch phát triển kinh tế ven biển đến năm 2020 nhưng chưa được thành lập thì cần phải xác định thời điểm phát triển thích hợp trên cơ sở nguồn lực và khả năng, điều kiện phát triển của từng địa phương. Tất cả đều phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội bảo đảm phát triển bền vững làm tiêu chuẩn hàng đầu. Trên cơ sở huy động tốt các nguồn vốn (ODA, FDI, NSTW, trái phiếu Chính phủ) và các hình thức đầu tư (trực tiếp, gián tiếp, BT, BOT, mô hình đối tác công tư – PPP…) cần tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, quan trọng trong các KKT, tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển vững chắc. Tăng cường tính chủ động của địa phương trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng KKT, tránh tình trạng chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ NSTW. Theo đó, tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án động lực hiện đã có sức hút để làm tiền đề cho việc hình thành khu vực phát triển công nghiệp chiến lược trong các KKT và thu hút các nhà đầu tư khác ngày một nhiều hơn.
Về cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước ở KKT. Đây là một vấn đề vĩ mô vô cùng quan trọng. Vì vậy, đòi hỏi các Bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu hướng dẫn việc thực hiện Nghị định 29/2008/NĐ-CP theo ngành, lĩnh vực quản lý, đặc biệt là hướng dẫn việc ủy quyền cho Ban quản lý thực hiện thật tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước trong KKT của mình. Thường xuyên rà soát, điều chỉnh đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về chức năng quản lý nhà nước của Ban quản lý KKT trên các lĩnh vực, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các văn bản quản lý nhằm phát huy hiệu quả và có hiệu lực. Đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể các lĩnh vực chưa quy định rõ như thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.
Từ thực tế, yêu cầu này với Nghị định 29 cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung còn vướng mắc, chưa hợp lý liên quan tới KKT theo hướng:
- Quy định rõ hơn cơ chế phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KKT trên các ngành lĩnh vực theo hướng tiếp tục chuyển dần từ cơ chế ủy quyền sang cơ chế giao quyền trực tiếp của các bộ, ngành Trung ương, UBND cấp tỉnh cho Ban quản lý KKT;
- Quy định bổ sung cơ chế phối hợp giữa Ban quản lý KKT với các bộ, ngành Trung ương, các Sở, ngành địa phương trong công tác quản lý hoạt động KKT theo hướng tạo điều kiện cho Ban quản lý thực hiện đầy đủ vai trò đầu mối quản lý KKT ở địa phương theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”.
Trong giai đoạn tới cần nghiên cứu xây dựng mô hình KKT mang tính đột phá để áp dụng các KKT đã thành lập. Chẳng hạn như mô hình đặc KKT, thành phố công nghiệp; hoặc xây dựng Ban quản lý KKT thành một cơ quan quản lý toàn diện về lãnh thổ, đầu tư phát triển, kinh tế - xã hội, trật tự an ninh quốc phòng…trong địa bàn KKT. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách gắn với đặc thù của từng KKT để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng đơn vị, vùng miền.
Theo đó, sớm có chính sách hỗ trợ hợp lý cho công nhân làm việc tại KKT về nhà ở, việc làm… nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, đảm bảo cuộc sống ổn định, phù hợp với mặt bằng thu nhập hiện nay. Và cuối cùng là hết sức coi trọng việc xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia cho các KKT ven biển Việt Nam có chi nhánh đặt tại nước ngoài vào thời điểm thích hợp, tạo sự hỗ trợ thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.