IRV - Ngày 13/5/2011, Bộ Y tế đã có công văn gửi các bộ, ngành liên quan về việc xin ý kiến Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá. Dự kiến cuối năm 2011, Dự thảo Luật sẽ được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến. Để Dự thảo Luật hoàn thiện phù hợp với nội dung, điều kiện hiện tại của Việt Nam và thông lệ chung của các nước trên thế giới, dưới đây xin trích đăng một số ý kiến của các Bộ, ngành, doanh nghiệp vào Dự thảo Luật.
Bộ Công Thương: Cần đổi tên Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá thành “Luật Kiểm soát và Phòng chống tác hại thuốc lá”
Theo Bộ Công Thương, Công ước liên quan đến thuốc lá của Tổ chức Y tế Thế giới mà hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đã ký kết tham gia và thực hiện mang tên “Công ước khung của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát thuốc lá” (FCTC). Khi triển khai nội luật hóa FCTC, các nước như Ấn Độ, Singapo xây dựng Luật kiểm soát tổng thể về thuốc điếu và các sản phẩm thuốc lá, không mang tên “Luật Phòng chống tác hại thuốc lá”. Luật gồm 02 nội dung: các biện pháp tuyên truyền, y tế cộng đồng, giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá; kiểm soát sản xuất, kinh doanh thuốc lá trong nước. Từ những lý do trên, đề nghị đổi tên Luật thành “Luật Kiểm soát và Phòng chống tác hại thuốc lá” cho phù hợp với nội dung, điều kiện hiện tại của Việt Nam và thông lệ chung của các nước trên thế giới.
Điều 1 với nội dung: “Luật này quy định về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, các biện pháp giảm nguồn cung cấp thuốc lá và các điều kiện bảo đảm để phòng, chống tác hại của thuốc lá”, đề nghị sửa lại là: “Luật này quy định về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá và các điều kiện bảo đảm để phòng chống tác hại của thuốc lá”, vì: Nguồn cung cấp thuốc lá của mỗi quốc gia đều từ nguồn cung cấp hợp pháp và nguồn cung cấp bất hợp pháp. FCTC chỉ khuyến cáo các quốc gia áp dụng các biện pháp làm giảm nguồn cung cấp thuốc lá bất hợp pháp, như: thuốc lá giả, thuốc lá lậu... Nguồn cung thuốc lá hợp pháp chính là nguồn do các doanh nghiệp được phép nhập khẩu cung cấp, đây là ngành kinh tế được các nước trên thế giới công nhận và không quốc gia nào đưa vào luật quy định giảm. Nếu đưa ra những biện pháp giảm nguồn cung thuốc lá hợp pháp, trong khi có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuốc lá, sẽ tạo điều kiện cho thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả phát triển, không kiểm soát được chất lượng sản phẩm thuốc lá, Nhà nước thất thu thuế.
Về ghi nhãn thuốc lá: Chỉ nên quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh hoặc bằng chữ, chiếm từ 30-50% diện tích mặt chính trước, sau vỏ bao thuốc lá và sau đó giao cho Chính phủ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội, tình hình chống buôn lậu thuốc lá để quy định lộ trình in cảnh báo sức khỏe cho phù hợp. Bởi vì: Công ước khung về kiểm soát thuốc lá chỉ quy định lộ trình thực hiện việc ghi nhãn là chiếm tối thiểu từ 30-50% hoặc nhiều hơn, ghi nhãn bằng chữ hoặc hình ảnh. Các nước có nguồn thuốc lá lậu nhiều vào Việt Nam như Inđônêxia, Campuchia chưa quy định phải in cảnh báo trên vỏ bao. Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, không nên quy định ngay mức 40% khi Luật có hiệu lực và từ ngày 01/01/2016 là 50%. Mặt khác, tình trạng buôn lậu thuốc lá tại Việt Nam vẫn diễn ra rất phức tạp và chưa kiểm soát được, hàng năm có khoảng 800 triệu bao thuốc lá nhập lậu vào Việt Nam (chiếm 20% thị phần tiêu thụ cả nước), làm thất thu thuế gần 4.000 tỷ đồng. Việc quy định in cảnh báo bằng chữ và hình ảnh với diện tích quá lớn, khiến cho người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng thuốc lá nhập lậu với giá bán thấp hơn, dẫn đến thất thu thuế cho Nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải giảm sản xuất do không cạnh tranh được với thuốc lá lậu, ảnh hưởng đến việc làm của hàng trăm ngàn lao động trong ngành Thuốc lá.
Số lượng thuốc lá điếu trong bao: Không nên quy định cấm đóng gói 10 điếu/bao. Việc đóng bao 10 điếu tiêu thụ ở Việt Nam không đáng kể, trong khi thuốc lá sản xuất để xuất khẩu loại 10 điếu/bao là rất phổ biến, chiếm khoảng 60% sản lượng xuất khẩu (khoảng 600 triệu bao/năm). Việc quy định số lượng điếu thuốc lá trong bao sẽ làm mất thị trường xuất khẩu của Việt Nam, dẫn đến người lao động mất việc làm, giảm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước trên 100 triệu USD mỗi năm.
Hiệp Hội Thuốc lá Việt Nam: Việc chuyển đổi ngành nghề cho người trồng thuốc lá và công nhân sản xuất thuốc lá cần được cân nhắc kỹ
Hiệp hội đề nghị sửa Điều 4, Khoản 5: Chính sách thay thế nhập khẩu, vì theo Hiệp hội, bất kỳ 1 loại gout (khẩu vị) thuốc lá nào cũng có sự phối trộn các loại nguyên liệu khác nhau, phải trao đổi giữa các vùng trồng thuốc lá, các giống thuốc lá trên thế giới, nên không thể thay thế nhập khẩu được. Vậy nên dùng cụm từ “giảm dần nguyên liệu nhập khẩu” khi trong nước đã đáp ứng cho sản xuất thuốc lá điếu.
Khoản 6: Việc chuyển đổi ngành nghề cho người trồng thuốc lá và công nhân sản xuất thuốc lá cần được cân nhắc kỹ, nếu không sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khoảng 250.000 nông dân và gia đình họ (khoảng 1.000.000 người) và những người lao động khác được tuyển dụng trực tiếp hay gián tiếp trong chuỗi cung lá thuốc lá, dẫn đến việc không hoàn thành kế hoạch phát triển trồng thuốc lá của Bộ Công Thương giao, Hiệp Hội kiến nghị Điều 4 (Khoản 6) được sửa đổi như sau: “Nghiên cứu mô hình khả thi về kinh tế để hỗ trợ người trồng thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá chuyển đổi ngành nghề khi người trồng thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá có nhu cầu chuyển đổi do nhu cầu đối với các sản phẩm thuốc lá giảm”.
Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng kiến nghị: Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình kiểm soát thuốc lá lậu, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định yêu cầu ghi rõ hàm lượng tar và nicotine (mg/điếu); Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá cần được tăng dần theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu phòng, chống tác hại của thuốc lá trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; Không tính sản xuất và gia công thuốc lá để xuất khẩu vào sản lượng của doanh nghiệp đã được công bố; Kinh phí cho phòng chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng sẽ được trích từ thuế tiêu thụ đặc biệt mà doanh nghiệp đã nộp cho Bộ Tài chính.
Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam: Trích nộp 2% vào Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá sẽ là gánh nặng cho doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh thuốc lá
Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam cũng kiến nghị đổi tên Dự thảo Luật là “Luật Kiểm soát và Phòng chống tác hại thuốc lá”, bởi lẽ: các văn bản pháp luật về kiểm soát SXKD thuốc lá có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị định 119/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 của Chính phủ đã căn cứ và được xây dựng trên nền tảng của Nghị quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 của Chính phủ về chính sách quốc gia về phòng chống tác hại của thuốc lá đến năm 2010 với quan điểm chỉ đạo là kiểm soát chặt chẽ SXKD thuốc lá từ khâu quy hoạch, trồng, chế biến nguyên liệu thuốc lá đến sản xuất kinh doanh sản phẩm thuốc lá, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của chính sách quốc gia về phòng chống tác hại của thuốc lá. Như vậy, kiểm soát thuốc lá và phòng chống tác hại thuốc lá là 02 nội dung gắn bó hữu cơ với nhau, vừa là mục tiêu vừa là điều kiện đảm bảo cho các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực có tính thực thi và hiệu quả.
Điều 27 - 28 quy định mức trích nộp kinh phí cho Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng, Tổng công ty kiến nghị như sau: Tại Điều 26 của FCTC về các nguồn lực tài chính để đạt mục tiêu của Công ước, đặc biệt nhấn mạnh, việc sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế của các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức tài chính và phát triển, các nguồn lực sẵn có của Nhà nước và tư nhân để tài trợ cho các chương trình kiểm soát thuốc lá đối với các nước đang phát triển và các nước đang trong thời kỳ quá độ. Với nội dung trên, việc huy động nguồn tài chính tài trợ cho việc triển khai thực hiện kiểm soát thuốc lá, phòng chống tác hại thuốc lá cần tránh việc huy động từ các nguồn thu mới, làm tổn hại cho nền kinh tế hoặc các ngành kinh tế của các nước thành viên FCTC, là các nước đang phát triển hoặc các nước trong thời kỳ quá độ. Việt Nam là quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển, việc quy định trích nộp % trên giá bán thuốc lá sẽ ảnh hưởng mạnh đến ngành Thuốc lá nội địa, như vậy sẽ trái với tinh thần của Công ước khung về vấn đề này.
Với mức trích 2% trên giá xuất xưởng hoặc giá nhập khẩu đối với mỗi bao thuốc lá là mức quá cao so với giá thành sản phẩm, sẽ là gánh nặng cho doanh nghiệp sản xuất thuốc lá. Năm 2010, ngành Thuốc lá nộp ngân sách nhà nước trên 11 nghìn tỷ đồng tiền thuế. Tuy nhiên, lợi nhuận của Ngành rất thấp so với các ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác. Dự kiến năm 2011, lợi nhuận của Tổng công ty khoảng 700 tỷ đồng, nếu mức đánh thuế 2% trên giá bán chưa có thuế TTĐB, thì mức đóng góp quỹ của toàn Ngành xấp xỉ 400-500 tỷ đồng. Đây thực sự là một gánh nặng cho ngành sản xuất thuốc lá nội địa, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát và khủng hoảng kinh tế hiện nay. Vì vậy, Tổng công ty kiến nghị mức trần tối đa không vượt quá 0,5% trên giá bán chưa có thuế TTĐB hoặc thuế nhập khẩu nếu có.