IRV - Sự kiện “chè bẩn” xảy ra gần đây đã thêm một minh chứng cho thấy, một bộ phận bà con nông dân thiếu hiểu biết, tầm nhìn ngắn, chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt mà không mảy may tính đến hậu quả lâu dài. Chưa hiểu hết ý nghĩa rộng lớn của chữ tín trong chính cơ sở sản xuất - kinh doanh của mình, người nông dân càng khó có thể giữ chữ tín của một thương hiệu, một quốc gia, một dân tộc!
Thanh long - một loại quả xuất khẩu mang lại nhiều nguồn lợi. Ảnh: CN.
Chữ tín giữa các “nhà” với nhau
Pha chế chè với những phân lân, xi măng, bùn... để làm tăng trọng lượng và làm cho chè có độ xanh, độ mượt... quả là những kiểu làm mới nghe ai cũng thấy kinh hãi. Rõ ràng, thương lái Trung Quốc với kiểu “xui trẻ con ăn cứt gà” này, đã đánh trúng vào lòng tham và sự thiếu hiểu biết của bà con trồng chè, khiến họ không còn nghĩ được gì ngoài lợi nhuận, bất chấp danh dự, uy tín của cộng đồng nông dân trồng chè trên một xứ sở, đất nước của chè.
Từ câu chuyện chè “bẩn” suy rộng ra về nông sản hiện nay. Là người Việt Nam, ai cũng cảm thấy lo ngại, hoài nghi khi thương nhân Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam thu mua nông sản. Xét tình hình thực tế, liệu có thể trách nông dân không, bởi bà con có quyền định đoạt sản phẩm do chính mình làm ra, mà theo lẽ thông thường, bên nào trả giá cao hơn thì họ bán, cách nào làm ra nhiều tiền hơn thì họ chọn? Thế nhưng, nếu họ chưa ý thức được việc mình làm lợi bất cập hại đến đâu, thì phải có người chỉ ra cho họ, người đó không ai khác chính là cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Nỗi lo lớn nhất của nông dân luôn là chất lượng và đầu ra cho sản phẩm của mình. Mọi người đều thấy được nguyên nhân của việc nông dân thu hoạch kém, thiếu hiểu biết, xa hơn là thiếu ý thức tự tôn thương hiệu, chính là do sự liên kết 4 nhà (nhà nông, nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp) còn lỏng lẻo.
Mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ nên luôn xảy ra tình trạng nông dân khó bán sản phẩm hoặc chạy theo lợi nhuận, tận thu tối đa bán cho thương lái nước ngoài, bán hết rồi thì doanh nghiệp trong nước còn lấy đâu ra hàng để chế biến và xuất khẩu. Nếu “2 nhà” này bắt tay siết chặt sẽ có được quy trình sản xuất khép kín, từ sản xuất, tiêu thụ đến chế biến. Lại thêm sự hỗ trợ của “2 nhà” là Nhà nước và nhà khoa học về cơ chế, chính sách và khoa học công nghệ nuôi trồng nữa, thì người nông dân chẳng có lý do gì để phải lo lắng bị ế, bị mua giá thấp... Mối quan hệ giữa các “nhà” này lâu nay chưa giữ được chữ tín. Cụ thể như chuyện của trái sầu riêng DONA, phía doanh nghiệp đã bỏ ra hàng chục tỷ đồng đầu tư cho nông dân từ khâu giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật để mua lại sản phẩm với giá bao tiêu đảm bảo cho nông dân có lời. Thế nhưng, vào đầu vụ trái cây, thương lái vào vườn mua với giá cao hơn 3-4 ngàn đồng/kg, vậy là nhiều nhà vườn phá hợp đồng với doanh nghiệp. Song, nhiều nhà vườn chỉ bán được đợt đầu với số lượng không nhiều, sau đó đến thời điểm thu hoạch rộ thì thương lái trả giá thấp hơn giá doanh nghiệp bao tiêu từ 4-5 ngàn đồng/kg. Vậy là, nông dân quay lại tìm công ty để bán hàng. Thế nhưng, vườn cây nào đã bán cho thương lái thường bị chọn hết những quả ngon, quả đẹp, chỉ còn lại những quả kém về mẫu mã và chất lượng. Kết cục là nông dân phải bán sản phẩm với giá rẻ, còn doanh nghiệp không có hàng xuất khẩu. Thiệt thòi cả hai bên cùng phải gánh chịu.
Những năm qua, khoa học công nghệ không ngừng tiến bộ, được áp dụng vào đời sống và sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đây chính là sự hỗ trợ rất lớn và rất đáng ghi nhận của “nhà” thứ ba – nhà khoa học. Vấn đề còn lại thuộc về trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước phải làm gì để “3 nhà” còn lại không bị xâm phạm quyền lợi, cũng có nghĩa là trách nhiệm buộc các bên phải giữ chữ tín của người “cầm cân nảy mực”?
Những tồn tại thực tế
Việt Nam là quốc gia tham gia vào thị trường nông sản thế giới (tự do) muộn hơn so với hầu hết các quốc gia nông nghiệp khác, như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Trung Quốc... Điều này thường được viện dẫn như là một trong những hạn chế đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam trong tìm kiếm, xây dựng quan hệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, chính những bất cập nội tại của Việt Nam, đặc biệt là những ưu tiên đầu tư của Chính phủ và hệ thống quản lý trong ngành nông nghiệp thiếu hiệu quả, mới là nguyên nhân chính, không những dẫn đến những rối loạn của thị trường trong nước, mà còn làm mất đi những cơ hội tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng và tăng cường xuất khẩu của nông sản Việt Nam.
Các cơ quan quản lý ngành nông nghiệp ở địa phương (như khuyến nông và bảo vệ thực vật), tương tự cũng chỉ nhận được nguồn ngân sách ít ỏi để duy trì các hoạt động theo kế hoạch đã được phê duyệt hàng năm của cấp cao hơn, thay vì có thể chủ động phản ứng có hiệu quả và kịp thời với các vấn đề phát sinh trong sản xuất nông nghiệp, thị trường thuốc bảo vệ thực vật, và những mong muốn của người dân. Đây cũng là lý do tại sao chè bẩn đã tồn tại một thời gian, mà các cơ quan quản lý địa phương không biết và không kiểm tra, như tin đã đưa trên VTV vừa qua.
Để có mối liên hệ chặt chẽ, cả 4 bên cùng có lợi và phát triển bền vững thì cả nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước phải giữ chữ tín, chia sẻ lợi nhuận, khó khăn với nhau. Đã có những “mô hình” này ra đời và thực sự rất đáng học hỏi. Đó là cây mía ở vùng Vĩnh Cửu, Trảng Bom. Trong niên vụ 2010-2011, có rất nhiều thương lái đến tận ruộng hỏi mua mía với giá cao hơn Nhà máy Đường Biên Hòa - Trị An bao tiêu từ 50- 100 ngàn đồng/tấn, nhưng nông dân vẫn không phá hợp đồng. Tất cả là vì bà con nghĩ đến việc giữ chữ tín, không phá hợp đồng thì sản phẩm tiêu thụ vẫn ổn định, điều này có lợi hơn nhiều. Đó là chưa kể, doanh nghiệp còn hàng loạt chính sách ưu đãi khác dành cho nông dân khi ký kết và thực hiện theo đúng hợp đồng.
Vì lợi ích quốc gia
Việc Trung Quốc sau khi thu mua chè của Việt Nam với giá cao bất chấp chất lượng, sau đó cho tiêu hủy toàn bộ số chè này một cách công khai đã khiến người Việt Nam không thể không phẫn nộ.
Là một đất nước có nhiều tai tiếng về an toàn thực phẩm, một trong số ít quốc gia mà hàng nông sản đang phải đối mặt với tỷ lệ từ chối nhập khẩu cao nhất ở thị trường châu Âu, vậy mà Trung Quốc lại công khai tiêu hủy chè bẩn "made in Vietnam", với người Việt Nam, đây quả là một nỗi đau. Chúng ta đau vì bị họ “bẫy” thì ít, đau vì tự chúng ta sập bẫy thì nhiều. Vì sao chúng ta “sập bẫy”, câu hỏi này có rất nhiều câu trả lời, nhưng khái quát lại, đó là vì chúng ta chưa hiểu hết ý nghĩa của chữ tín về thương hiệu của một quốc gia.
Nhiều doanh nghiệp nhận thức rõ rủi ro khi phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiềm lực để đầu tư xuất khẩu vào các thị trường cao cấp hơn. Bởi, để có vùng nguyên liệu lớn và đồng đều về chất lượng, tự thân nông dân không thể làm được nếu thiếu sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ từ phía Nhà nước, doanh nghiệp.
Còn một vấn đề không kém quan trọng liên quan đến chất lượng. Nếu chúng ta bị hút vào thị trường Trung Quốc dễ tính, sẽ không bao giờ chinh phục được thị trường khó tính nữa. Sản xuất nông nghiệp của chúng ta vẫn bấp bênh, phụ thuộc và kém phát triển nên khó kiểm soát kỹ thuật và khó thu mua tập trung được một lượng hàng hóa đủ để cung cấp cho những đơn hàng lớn của các thị trường cao cấp...
Mỗi địa phương là một quốc gia thu nhỏ. Việc một số cơ sở sản xuất trên địa bàn không biết tôn trọng thương hiệu của mình, của ngành, chạy theo những mối lợi trước mắt, làm ăn theo kiểu chè “bẩn” như vừa qua, không phải chỉ là vấn đề của riêng các cơ sở sản xuất đó, mà đang là mối quan tâm của toàn xã hội và cả quốc gia. Theo PGS.TS. Phạm Tất Thắng, chuyên gia kinh tế cao cấp, kiêm tư vấn chính sách của Viện Nghiên cứu Thương mại, đó là vấn đề của một quốc gia chưa biết đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu!