Kinh tế
10/8/2011 2:32:00 PM
Nhìn lại hoạt động quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của Bộ Công Thương sau 4 năm thành lập

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
IRV - A. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG
I. Về cơ sở pháp lý
Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ nhất về cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ khoá XII; Bộ Công Thương được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp. Kể từ ngày 28 tháng 12 năm 2007, Bộ Công Thương được tổ chức và hoạt động theo Nghị định 189/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương (Nghị định 189). 

Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hoá trong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế, quản lý cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Công Thương gồm 35 vấn đề được quy định trong Nghị định 189. 

Quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực của Bộ Công Thương được thực hiện trên các cơ sở pháp lý sau:
a) Lĩnh vực thương mại: Có Luật Thương mại và 20 nghị định quy định.
b) Lĩnh vực dầu khí: Có 03 văn bản Luật và 09 nghị định quy định.
c) Lĩnh vực cạnh tranh: Có Luật Cạnh tranh và 02 nghị định quy định.
d) Lĩnh vực điện: Có Luật Điện lực và 05 nghị định quy định.
đ) Lĩnh vực hóa chất: Có Luật Hoá chất và 03 nghị định quy định.
e) Lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Có Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và 01 nghị định.
f) Lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng: Có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định quy định chi tiết Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
g) Lĩnh vực phòng vệ thương mại: Có 04 Pháp lệnh liên quan và 03 nghị định quy định.
h) Lĩnh vực khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn: Có 01 nghị định quy định.
i) Các lĩnh vực khác: Theo quy định của pháp luật hiện hành. 

II. Tổ chức bộ máy của Bộ
a) Về tổ chức bộ máy:
- Để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Bộ Công Thương có 31 tổ chức, gồm: 18 Vụ, 8 Cục, Văn phòng, Thanh tra và 03 tổ chức chuyên ngành. (Thương vụ tại các nước và các vùng lãnh thổ; Cơ quan Đại diện của Bộ Công Thương tại thành phố Hồ Chí Minh; Ban Thư ký Hội đồng Cạnh tranh). 

Từ ngày 15 tháng 8 năm 2011, theo quy định tại Nghị định số 44/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 189/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, Bộ Công Thương được thành lập Tổng cục Năng lượng trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp năng lượng. 

b) Mối quan hệ giữa Bộ Công Thương với các địa phương.
Tổ chức các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại tại các địa phương thực hiện theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008; Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2010 và Thông tư liên tịch số 07/2008/TTLT-BCT-BNV của Bộ Công Thương và Bộ Nội vụ ban hành ngày 28 tháng 5 năm 2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về Công Thương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
 
III. Hoạt động của Bộ
1. Hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Công Thương là hoạt động quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, gồm các ngành, lĩnh vực như đã nói ở phần I 

2. Hoạt động của các đơn vị khác thuộc Bộ:
- Các đơn vị sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước: Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách công nghiệp; Viện Nghiên cứu Thương mại; Báo Công Thương; Tạp chí Công nghiệp; Tạp chí Thương mại; Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán Bộ Công Thương Trung ương. 

- Các các đơn vị sự nghiệp khác: Trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Thương có 08 Trường đại học, 22 trường cao đẳng, 01 trường trung học, 8 Viện nghiên cứu khoa học chuyên ngành, 02 Trung tâm trực thuộc Bộ, Báo Đối ngoại Vietnam Economic News (VEN), Nhà Xuất bản Công Thương và Văn phòng Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế. 

Qua 4 năm hoạt động, có những nhận xét sau:
a) Các trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có năng lực công tác trong các ngành kỹ thuật, công nghệ, kinh tế,... cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Công Thương và cho xã hội. Các trường trực thuộc Bộ hoạt động theo nguồn kinh phí sự nghiệp do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn thu từ một số hoạt động nghiên cứu, tư vấn, dịch vụ có thu theo quy định của Nhà nước; thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 5 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ.
b) Bộ Công Thương đã chuyển 100% các viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc đối tượng tự chủ, tự trang trải sang hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ công lập. Nhìn chung, các Viện đã có những kết quả nhất định trong việc chủ động công tác nghiên cứu gắn với áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học. Việc chuyển đổi các Viện thuộc Bộ Công Thương theo Nghị định 115 trong thời gian qua có thể khẳng định các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành về lĩnh vực khoa học công nghệ thực sự đã đem lại động lực to lớn trong việc củng cố và phát triển các tổ chức khoa học công nghệ. 

3. Về quản lý và cung ứng dịch vụ công:
Dịch vụ công do Bộ Công Thương quản lý là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do Bộ Công Thương hoặc các tổ chức được Bộ Công Thương phân cấp, ủy quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức văn bản có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ hoặc hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp và người dân. Bộ Công Thương đã ban hành Quy chế cung cấp trực tuyến 41 dịch vụ công do Bộ quản lý, thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hoá thủ tục hành chính... trong lĩnh vực được giao quản lý. 

4. Đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước.
Với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước theo Nghị định 189 nêu trên và các quy định khác của pháp luật, Bộ Công Thương thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với 08 Tổng công ty 90 (4 tổng công ty 100% vốn nhà nước, 4 tổng công ty cổ phần có vốn nhà nước), 15 doanh nghiệp (8 công ty TNHH 1 thành viên, 7 công ty cổ phần có vốn nhà nước). Ngoài ra, Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành Công Thương, thực hiện một số chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đối với 5 tập đoàn kinh tế, 3 tổng công ty 91. 

B. ĐÁNH GIÁ
1. Những mặt đạt được
- Với nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo quy định tại Nghị định 189 đã giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương sớm ổn định tổ chức, điều hành các công việc do Chính phủ giao. Kết quả nổi bật của Bộ Công Thương sau khi thành lập là đã tạo được sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn giữa các đơn vị trong các khâu từ xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, sản xuất đến lưu thông, phát triển thị trường nội địa với xuất khẩu, hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở đó, Bộ đã chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ được giao ngày một tốt hơn. Điều này đã giúp khắc phục được tình trạng đôi khi có những chỉ đạo chưa thật đồng bộ, thậm chí có quan điểm trái ngược giữa hai Bộ trước đây, giữa hoạt động sản xuất và kinh doanh, giữa xuất nhập khẩu với bảo hộ sản xuất trong nước... 

- Nhờ vào việc chỉ đạo tập trung từ sản xuất đến kinh doanh, xuất nhập khẩu mà trong thời gian qua, tuy gặp khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng thực hiện chỉ đạo và giải pháp của Chính phủ, Bộ Công Thương đã phối hợp tốt với các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo đảm bảo cân đối cung - cầu, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu, thị trường ổn định, đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất và đời sống nhân dân. 

- Về công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 11,83%/năm trong giai đoạn 2008 - 2010. 

- Về xuất khẩu, trừ năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nên không đạt chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra, những năm 2007, 2008, 2010 đều vượt mục tiêu. 

- Công tác chỉ đạo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ đã đi vào nề nếp, thực hiện theo chương trình kế hoạch hàng năm. Trong 4 năm qua, Bộ Công Thương đã hoàn thành chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (4 Luật quản lý nhà nước các lĩnh vực ngành Công Thương: Luật Hóa chất, Luật Dầu khí sửa đổi, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; các Nghị định, Quyết định, Thông tư chuyên ngành liên quan). Bên cạnh chương trình xây dựng pháp luật, Bộ đã triển khai nhiều chương trình phổ biến, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, theo dõi thực thi pháp luật đạt kết quả tốt. 

- Về công tác chỉ đạo xây dựng chiến lược, quy hoạch: Bộ Công Thương đã tập trung chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng triển khai thực hiện việc lập các quy hoạch trên các lĩnh vực điện lực, dầu khí, khoáng sản, hóa chất, xuất khẩu, hạ tầng thương mại, quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối mặt hàng phân bón, sắt thép, xăng dầu đến năm 2020; xây dựng chiến lược điều chỉnh cơ cấu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, chiến lược điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển của ngành được đánh giá là có chất lượng và tính khả thi cao hơn trước, vì đã gắn kết được chặt chẽ hơn giữa hai lĩnh vực công nghiệp và thương mại, sản xuất và lưu thông, phát triển thị trường nội địa với xuất khẩu. 

2. Những hạn chế
- Là Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, đầu mối quản lý nhiều, chủ yếu tổ chức theo mô hình các Vụ, Cục, không có Tổng cục. Có những lĩnh vực nhiều đầu mối, phân tán, vai trò chỉ đạo tập trung chưa phát huy được như trong các lĩnh vực thương mại ngoài nước, thị trường trong nước; năng lượng... 

- Các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và vùng lãnh thổ đã có những cố gắng trong lĩnh vực làm cầu nối trong xúc tiến thương mại, trong việc hỗ trợ giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thâm nhập thị trường. Hoạt động của các Thương vụ góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt đối với những thị trường mới, xuất khẩu mặt hàng mới của Việt Nam. Thực hiện Luật Cơ quan đại diện, hiện nay các Thương vụ đã và đang được điều chuyển về cho Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại quản lý. Đối với những địa bàn quan trọng, phức tạp, cần nghiên cứu, xem xét mô hình quản lý này cho phù hợp để bảo đảm và giữ được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Công Thương trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao. 

- Thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước: 

Đối với các công ty trực thuộc sau khi cổ phần hóa theo quy định sẽ được các Bộ quản lý ngành bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, có những vấn đề cần có quan tâm giải quyết như đào tạo cán bộ kế cận; thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp... Ngoài ra, cần làm rõ thêm vai trò chủ sở hữu đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty 100% vốn nhà nước. Cần phân định rõ trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành đối với quản lý các hoạt động của các đơn vị này. 

3. Những chồng chéo, vướng mắc
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Công Thương nhận thấy có những nhiệm vụ đang còn chồng chéo, đan xen với các Bộ, ngành khác. Cụ thể là: 

- Về lĩnh vực ban hành các quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn; vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn.
- Về quản lý xúc tiến thương mại.
- Về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Về quản lý cạnh tranh. 

Nhìn lại sau 4 năm hoạt động, Bộ Công Thương về cơ bản đã hoàn thành được những nhiệm vụ Chính phủ giao. Đặc biệt là trong các năm 2008-2010, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu về kinh tế, sản xuất của các ngành công nghiệp, việc tiêu thụ cũng như xuất nhập khẩu trong và ngoài nước gặp nhiều khó khăn. Bước vào nhiệm kỳ Chính phủ khoá XIII, với sự nỗ lực và cổ gắng của cán bộ, công nhân viên toàn Ngành, cùng với việc kiện toàn lại tổ chức, bộ máy, Bộ Công Thương phấn đấu hoàn thành tốt những nhiệm vụ và vai trò tham mưu cho Thủ tướng và Chính phủ trong điều hành nền kinh tế đất nước.
Khiếu Hữu Bộ - Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ - Bộ Công Thương
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều