IRV - Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều khó khăn về biến động thị trường, về tài chính, nhưng các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công Thương đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm tăng trưởng và ổn định đời sống người lao động, thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong công tác quản lý, còn có những vấn đề cần được xem xét, quan tâm như hiệu quả đầu tư, quản lý dự án, vốn, quản lý nguồn nhân lực và chế độ chính sách cho người lao động, nhất là các doanh nghiệp cổ phần hóa.
1. Thực trạng quản lý các doanh nghiệp nhà nước của Bộ Công Thương
Theo quy định tại Nghị định 189/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hoá trong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế, quản lý cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Đối với lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, Bộ Công Thương thực hiện chức năng Đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước theo sự phân công của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ quy định về Đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại Nghị định 189 nêu trên và tại Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 2 năm 2009) của Chính phủ ban hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, tại các Nghị định về quyền Chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp (Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2005, Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 8 năm 2006, Nghị định 101/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2009, Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ), Bộ Công Thương thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ như sau:
Hiện nay, Bộ Công Thương quản lý trực tiếp 8 Tổng công ty 90 (4 tổng công ty 100% vốn nhà nước, 4 tổng công ty cổ phần có vốn nhà nước), 15 công ty trực thuộc (8 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 7 công ty cổ phần có vốn nhà nước), 1 Viện nghiên cứu hoạt động mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ 100% vốn nhà nước.
Ngoài ra, Bộ Công Thương thực hiện một số chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đối với 5 tập đoàn kinh tế, 3 tổng công ty 91.
Việc quản lý các doanh nghiệp nêu trên chủ yếu thực hiện theo các nội dung công việc sau:
a) Về sản xuất, kinh doanh: Định hướng sản xuất kinh doanh từng năm, dài hạn và ngắn hạn theo qui hoạch. Tháo gỡ khó khăn và vướng mắc cũng như đề xuất với các Bộ, Ban ngành, với Thủ tướng Chính phủ các cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững.
b) Về tổ chức, cán bộ: Quản lý các mặt về tổ chức, cán bộ, chế độ chính sách, về các vấn đề liên quan dến người lao động của doanh nghiệp.
c) Kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp trong các mặt như tài chính, đầu tư...
d) Thực hiện các việc quản lý khác theo quy định của pháp luật.
Việc quản lý các doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương được thực hiện tùy theo tính chất công việc và loại hình doanh nghiệp.
2. Nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công Thương.
Các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công Thương hiện nay có thể được tạm chia làm 2 nhóm sau:
a) Nhóm 1: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm chủ sở hữu.
Nhóm doanh nghiệp này hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Việc quản lý các doanh nghiệp này về cơ bản có các cơ chế, chính sách được Nhà nước ban hành. Chủ sở hữu nhà nước sử dụng các công cụ này để quản lý doanh nghiệp nhà nước trực thuộc.
b) Nhóm 2: Doanh nghiệp còn vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm Đại diện chủ sở hữu (doanh nghiệp đã cổ phần hoá).
Các doanh nghiệp thuộc nhóm này là các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, còn vốn nhà nước và Bộ Công Thương được Thủ tướng Chính phủ giao làm Đại diện chủ sở hữu (đối với các Tổng công ty cổ phần) hoặc trong thời gian chưa bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (đối với các công ty cổ phần).
Việc quản lý các doanh nghiệp đã cổ phần hoá hiện theo nguyên tắc thông qua Người đại diện phần vốn nhà nước do Bộ Công Thương cử. Mặc dù hiện nay tuy đã có một số văn bản của Nhà nước quy định, nhưng trong thời gian qua đã bộc lộ những vấn đề sau:
- Chưa khẳng định được vai trò và trách nhiệm của Chủ sở hữu.
- Chưa có quy định cụ thể mang tính pháp lý về Người đại diện phần vốn nhà nước, việc cử Người đại diện, trách nhiệm của Người đại diện cũng như những vấn đề xung quanh việc trả lương, thu nhập của người đại diện.
- Vai trò của Người đại diện phần vốn nhà nước và tham gia Hội đồng quản trị các công ty cổ phần chưa được phát huy cũng như chưa có chế tài quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của Người đại diện phần vốn nhà nước, để giúp doanh nghiệp sau cổ phần hoá ổn định hoạt động và sản xuất kinh doanh.
- Tại một số doanh nghiệp cổ phần quy mô lớn, thời gian qua đã bộc lộ những vấn đề như việc giám sát, kiểm tra, sự thể hiện vai trò của Chủ sở hữu trong giải quyết một số vấn đề về chủ trương đầu tư, về tính thống nhất cũng như trách nhiệm của Người đại diện chưa được làm rõ. Trong một số trường hợp chưa thể hiện vai trò của Người đại điện đối với các vấn đề về lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp, cũng như việc thông tin kịp thời và đầy đủ cho Lãnh đạo các cấp xử lý các trường hợp xảy ra tại doanh nghiệp.
- Chưa có quy định để bảo đảm việc thu thập thông tin đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, nên rất khó trong công tác phân tích, đánh giá hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá.
Triển khai thực hiện Quyết định số 14/2011/QĐ-TTCP ngày 04 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước, ngày 22 tháng 6 năm 2011, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-BCTVPCP để tăng cường thực hiện chức năng quản lý của Chủ sở hữu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư; đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần hoá, có một số kiến nghị sau:
a) Sớm ban hành quy định về Chủ sở hữu, về Đại diện chủ sở hữu, về cơ chế giám sát, kiểm soát, về chức năng quản lý giữa các Bộ, ngành để tránh có quá nhiều chủ sở hữu trong Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty 100% vốn nhà nước như hiện nay.
b) Sớm ban hành thống nhất tiêu chuẩn Người đại diện vốn nhà nước, Kiểm soát viên và người trực tiếp quản lý cổ phần nhà nước tại công ty cổ phần, tăng thẩm quyền và trách nhiệm của Người đại diện vốn nhà nước; bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp, chế độ thưởng và giải quyết chế độ chính sách sau khi không được cử làm Người đại diện vốn nhà nước.
c) Cần ban hành cơ chế quản lý đầu tư, phát triển theo hướng tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm (kể cả trách nhiệm về vật chất) đối với doanh nghiệp nếu đầu tư không có hiệu quả, gây tổn thất, mất khả năng thanh toán, các quy định cụ thể về hạn chế đầu tư của các Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty, công ty đối với các lĩnh vực kinh doanh không phải là nhiệm vụ chính.
d) Đối với các doanh nghiệp cổ phần còn vốn nhà nước, cần có lộ trình bán bớt phần vốn nhà nước để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia quản lý doanh nghiệp.
e) Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các doanh nghiêp 100% vốn nhà nước theo quy định.
f) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ người lao động; đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối vơi doanh nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; đồng thời tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp.