Kinh tế
28/6/2011 3:39:00 PM
Tăng cường giám sát đầu tư công, quản lý nợ công
IRV - Theo dự báo của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách-VEPR (Đại học Quốc gia) nợ công của nước ta sẽ tăng dần đều và đạt mức 64% GDP vào năm 2015.
Nợ công nợ của toàn dân
Điều 1 Luật Quản lý nợ công (2009), nợ công gồm: “Nợ chính phủ; Nợ được Chính phủ bảo lãnh; Nợ chính quyền địa phương.” 

Nợ công còn gọi là nợ chính phủ, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay. Theo nguồn vay, nợ công gồm: Nợ trong nước, và nợ nước ngoài; Theo thời hạn vay gồm: Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm). 

Hạn mức nợ công trên tổng sản phẩm quốc dân (GDP) là mức trần tỷ lệ giữa số dư nợ tại từng thời điểm với GDP. Tỷ lệ là bao nhiêu là an toàn? “Chủ trương của Việt Nam thì từ lâu đã đưa ra hệ số an toàn cho việc vay nợ. Hệ số an toàn này phù hợp với điều kiện “sức khỏe” của từng nước. Có nước có thể trên 100% GDP, xấp xỉ 100%, dưới 100%. Còn nước ta khoảng 50% GDP - Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trả lời phỏng vấn tại Quốc hội ngày 05/2010”. 

Kinh tế tăng trưởng có xu hướng tăng nợ chính phủ, nhờ nợ mà dòng vốn của thế giới được lưu chuyển cứu vãn nhiều nền kinh tế, nhưng khủng hoảng nợ có nguy cơ ở các nước quản lý nợ công kém, gây nhiều hậu quả. Một chuyên gia Việt Nam (ông Bùi Trinh -TCKT) đi hội thảo ở Arghentina cho biết : Chưa hết giờ làm việc, tôi nhìn xuống bãi cỏ thấy dân (đa phần là công chức) tụ tập nghỉ ngơi, vui chơi đến tối vẫn đông, đó là dấu hiệu của tiêu dùng từ nợ công. Và người Hy Lạp rất hài hước, tự thưởng “Trong quá khứ, cha ông chúng tôi đã cống hiến cho nhân loại, chúng tôi có quyền hưởng thụ”, người dân Lybia cũng không kém ngộ nghĩnh cho rằng “đồng hồ chính xác hay không, không quan trọng”, bởi họ làm việc muộn, nghỉ trưa dài! 

Theo dự báo của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách-VEPR (Đại học Quốc gia) nợ công của nước ta sẽ tăng dần đều và đạt mức 64% GDP vào năm 2015. 

Nợ công không là việc riêng của chính phủ mà của tất cả những tổ chức cá nhân sử dụng, thụ hưởng đầu tư công, đặc biệt là khối những người làm việc hưởng ngân sách và các tổ chức được ngân sách đầu tư. Các bậc cao niên than thở, nợ công lớn quá, cháu con trả nợ thì khổ! 

Đầu tư công cần giám sát chặt chẽ
Theo Điều 3 dự thảo Luật Đầu tư công (2010): Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp.
Đầu tư công khác với đầu tư công cộng: Tư duy truyền thống cho rằng đầu tư công cộng là chi tiêu chính phủ để cung ứng hàng hóa, dịch vụ công. Lập luận rằng những hàng hóa, dịch vụ công đó, tư nhân không muốn đầu tư vì không có lãi, khó thu hồi vốn. Thực chất, tư nhân vẫn có thể làm những công trình công cộng theo đơn đặt hàng của chính phủ, theo các hợp đồng hợp tác công tư. Thực tế các doanh nghiệp nhà nước được giao cung ứng hàng hóa, dịch vụ công vẫn phải mua của khu vực tư nhân. Tư nhân ít khi được nhận vốn đầu tư trực tiếp bởi thiếu cơ chế hợp tác. Việc chủ đầu tư bám giữ vốn đầu tư công có “lý do riêng”. Đó là muốn tạo ra quyền lực ban phát khi mời thầu. Hệ thống cây xanh ở sân vận động, hàng nghìn áo phông, hàng trăm dự án hạ tầng mà doanh nghiệp tư nhân trúng thầu không đơn giản là giá cả hay chất lượng mà phải trả “phụ phí” rất cao, thậm chí phải ứng trước cho chủ đầu tư chạy vốn, phải đãi đằng bằng các chuyến du lịch ẩn vào khảo sát thị trường, đánh bạc cố ý thua...Đây là lỗ hổng trong đầu tư công, có tính quốc tế (đặc biệt là các dự án ODA, thậm chí cả viện trợ nhân đạo và tài trợ phúc lợi). Một nhóm học sinh muốn trợ giúp địa phương xây trường học để tri ân những năm tháng sơ tán, chống Mỹ, cán bộ địa phương đó đòi cả %, họ thấy đồng tiền nào cũng là “tiền chùa”, một tổ chức thực hiện hỗ trợ túi bioga sinh học cho dân cũng gặp chuyện tương tự... 

Những năm doanh nghiệp dân doanh mới bùng phát, một cán bộ cấp vụ nói hành lang rằng “hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân thì ăn gì?” vẫn là căn bệnh về đầu tư công thiếu công bằng. Sau các vụ đổ bể một số doanh nghiệp khu tư nhân như Epco- Minh Phụng,... cho dư luận thấy một số doanh nghiệp khu vực tư nhân nhiễm nhanh thói xấu chạy vốn đầu tư công như bất kỳ doanh nghiệp nào! 

Chạy vốn ngân sách, chạy dự án để có đất đai (nguồn gốc là tài sản quốc gia) đã và đang trở thành “tiêu chí” đánh giá “năng lực” doanh nhân “giỏi”, cán bộ “tài”, làm căn cứ để “tôn vinh, đề bạt” nếu như mọi việc đều êm. Miếng bánh ngân sách có hạn, việc vận động, cạnh tranh là tất yếu,... và “cơ chế xin cho” có đất “quyền biến”. 

Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo dự án “Hệ thống thông tin phục vụ theo dõi, giám sát và đánh giá các dự án đầu tư sử dụng vốn của Nhà nước” đến cuối năm 2013 sẽ hoạt động. Đây là việc làm cần thiết, có thể chúng ta đấu thầu mua phần mềm của quốc gia có kinh nghiệm quản lý vốn nhà nước.

Khó khăn nhất của dự án có lẽ là “Xây dựng cơ sở dữ liệu về các dự án đầu tư sử dụng vốn của Nhà nước” và pháp luật hóa với những chế tài mới hy vọng có nguồn dữ liệu tin cậy cho công tác quản lý, giám sát đầu tư công. Việc thông tin số liệu về xuất nhập khẩu, giá trị sản xuất,... có lúc sai số rất lớn do báo cáo không được cập nhật thì việc quản lý hàng ngàn dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước hoàn toàn không đơn giản.

Đổi mới phương thức sử dụng vốn đầu tư công cùng với năng lực quản lý nợ công là hai điểm mấu chốt của quản lý ngân sách nhà nước, công cụ xã hội hóa đầu tư, phòng chống tham nhũng có hiệu quả.

>>Chuyên đề quản lý nợ công

>>Thông tư số 56/2011/TT-BTC hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia

>>Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công
>>Luật quản lý nợ công

>>Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng (Quyết định 80/2005/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch 04/2006/TTLT-KH&ĐT-UBTƯMTTQVN-TC)

>>Dự thảo Luật đầu tư công
Mai Nguyên
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
Các tin bài mới hơn
 Xem theo Ngày : 
 Tháng:  Năm:  
Tin mới Đọc nhiều Phản hồi nhiều