Hỏi & Đáp
Thứ Năm, 23/2/2012
Một số bạn đọc hỏi về "Hợp đồng bán hàng tận cửa", tiện ích và những tranh chấp?
b0ng_th0n_nu
Bán hàng tận cửa - những vấn đề pháp lý và thực tiễn

Những năm gần đây ngày càng có nhiều người tiêu dùng bị mắc lừa mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng do những kẻ mang đến tận nhà chào bán. Thậm chí những kẻ bán hàng còn giả dạng nhân viên công ty đến tận nhà để ký hợp đồng, xưng danh cả cán bộ địa phương dọa nạt, ép buộc phải mua hàng...Những hành vi kiểu này đã cấu thành tội lừa đảo, tuy nhiên trong những giao dịch mua bán hàng hóa hàng ngày như thế này, nhận thức và sự hiểu biết của người tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp họ tự bảo vệ chính mình. 06/01/2012


Thế nào là bán hàng tận cửa?

Lần đầu tiên thuật ngữ "bán hàng tận cửa" chính thức được đưa vào Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính thứ có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2011.

Tại chương 1 - Những quy định chung của Nghị định 99/2011/NĐ-CP, điều 3 có giải thích thế nào là bán hàng tận cửa, theo đó:

"Bán hàng tận cửa là trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện việc bán hàng hóa tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng."

Như vậy, rõ ràng rằng nội hàm của thuật ngữ "bán hàng tận cửa" đã bao quát được hầu hết hành vi mua bán hàng hóa giữa người bán hàng và người mua hàng tại địa điểm diễn ra hoạt động mua bán là nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng.

Mở rộng khái niệm này, kể cả việc người mua ấn định một cuộc hẹn với người bán tại một địa điểm xác định nào đó nhằm thực hiện việc trao đổi, mua bán hàng hóa đều được xem là bán hàng tận cửa.

Trong thực tế, người tiêu dùng có thể hẹn người bán hàng mang hàng đến một nơi khác thuận tiện với hoàn cảnh của mình thời điểm đó mà không phải chỗ ở hay nơi làm việc của mình để xem xét, kiểm tra hàng hóa và thực hiện việc mua bán, điều đó hoàn toàn được hiểu là bán hàng tận cửa.

Quy định về nghĩa vụ của người bán hàng tận cửa

Tại điều 19, mục 2 chương 3 của nghị định nêu rõ:

Điều 19. Hợp đồng bán hàng tận cửa

1. Người bán hàng tận cửa là người của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Khi thực hiện việc bán hàng tận cửa người bán hàng tận cửa có nghĩa vụ sau đây:

a) Giới thiệu tên, số điện thoại liên lạc, địa chỉ, trụ sở của tổ chức, cá nhân kinh doanh, chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết hợp đồng;

b) Không được tiếp tục đề nghị giao kết hợp đồng khi người tiêu dùng đã từ chối;

c) Giải thích cho người tiêu dùng về điều kiện của hợp đồng, thông tin khác mà người tiêu dùng quan tâm liên quan đến hàng hóa, dịch vụ.

Nhìn nhận một cách khách quan, việc quy định người bán hàng giới thiệu tên, số điện thoại liên lạc, địa chỉ, trụ sở của tổ chức, cá nhân kinh doanh, chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết hợp đồng dường như còn thiếu tính chặt chẽ.

Trong thực tế người bán hàng có thể giới thiệu tất cả những thông tin của cá nhân, tổ chức như trên mà chẳng có gì làm bằng chứng những thông tin ấy là sự thật. Hầu hết những vụ lừa đảo bán hàng tận nhà mà báo chí phản ánh người bán hàng đều đưa ra những thông tin giả, thậm chí là giả danh nhân viên bán hàng của những công ty, nhà sản xuất... trong khi người tiêu dùng không có cách nào kiểm chứng những thông tin đó.

Để chiếm lòng tin của người tiêu dùng, người bán hàng còn đưa ra danh thiếp in tên tuổi, số điện thoại, địa chỉ trụ sở... tuy nhiên sau khi biết mình bị lừa mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng...người tiêu dùng mới nhận ra tất cả thông tin người bán hàng cung cấp đều là giả.

Trong những tình huống như thế, nhận thức của người tiêu dùng trước những thông tin mà người bán hàng cung cấp là yếu tố tiên quyết giúp họ tự bảo vệ chính mình. Câu hỏi đặt ra là người tiêu dùng làm cách nào để kiểm chứng những thông tin mà người bán hàng đưa ra và ai là người đưa ra những chỉ dẫn, hướng dẫn cho họ? Thêm nữa khi người bán hàng cố tình chèo kéo, dọa nạt, ép buộc người tiêu dùng mua hàng thì họ phải đối phó như thế nào?

Quy định người bán hàng có nghĩa vụ phải giới thiệu tên, số điện thoại liên lạc địa chỉ trụ sở... chưa đủ chặt chẽ để đảm bảo nghĩa vụ cung cấp thông tin chính xác cho người tiêu dùng. Việc giới thiệu thông tin mà không có bằng chứng nào để kiểm chứng thông tin đó có chính xác hay không không giúp người tiêu dùng nhận biết được người bán hàng cho mình là ai.

Người bán hàng tại thời điểm đó chính là người phải chịu toàn bộ trách nhiệm về sản phẩm, về các điều kiện mua bán trao đổi trong giao dịch với người tiêu dùng. Chính vì vậy việc nắm được thông tin chính xác về người bán hàng tận cửa sẽ là điều kiện giúp người tiêu dùng có thể tìm được nơi giải quyết những thắc mắc liên quan đến quyền lợi của mình nếu xảy ra bất kỳ vấn đề gì liên quan đến sản phẩm đã mua.

Để chắc chắn những thông tin người bán hàng đưa ra là chính xác và đảm bảo họ không mạo danh để trục lợi, phải chăng chúng ta nên đưa ra quy định yêu cầu người bán hàng tận cửa phải có nghĩa vụ chứng minh nhân thân bằng cách đưa cho người mua xem chứng minh thư hoặc giấy tờ khác chứng minh người bán là thành viên của một công ty, một tổ chức...

Xem xét một số quy định về bán hàng tận cửa của Phòng thương mại công bằng Anh quốc, có thể thấy nghĩa vụ của người bán hàng với những ràng buộc khá chặt chẽ:

"Bán hàng tận cửa là việc một người đến nơi ở hoặc nơi làm việc của người tiêu dùng nhằm bán hàng hóa hoặc dịch vụ. Người tiêu dùng có thể yêu cầu một cuộc hẹn gặp người bán để thực hiện việc mua bán hoặc người bán tự đến".

Người bán hàng tận cửa phải:

- Trình thẻ căn cước (chứng minh thư) cung cấp tên của họ và tên công ty

- Trình bày rõ ràng ngay từ đầu rằng mục đích của họ là đang bán một cái gì đó

- Không được gây áp lực ép buộc người tiêu dùng mua một cái gì đó

Một số người bán hàng tận cửa là thành viên của Hiệp hội bán hàng trực tiếp (DSA) phải cung cấp cho người tiêu dùng các dịch vụ mua bán với các tiêu chuẩn chăm sóc khách hàng cao hơn mức yêu cầu của luật. Họ phải giới thiệu cho người tiêu dùng quy trình khiếu nại chính thức nếu hàng hóa, sản phẩm có vấn đề. Người bán hàng cũng phải trình biểu tượng (logos) của DSA và mã số bán hàng được Phòng thương mại công bằng cấp.

Nếu có bất kỳ vấn đề gì với người bán hàng, ví dụ như bị ép buộc mua hàng, bị làm phiền thì người tiêu dùng có thể gọi ngay tới một đường dây nóng của cơ quan bảo vệ người tiêu dùng để được nghe hướng dẫn.

Quy định về hợp đồng bán hàng tận cửa

Tại điều 19 của nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định:

Điều 19. Hợp đồng bán hàng tận cửa

2. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hợp đồng bán hàng tận cửa phải được lập thành văn bản và giao cho người tiêu dùng một bản.

3. Trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày giao kết hợp đồng, người tiêu dùng có quyền yêu cầu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đã giao kết và thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân kinh doanh. Trước khi hết thời hạn này, người bán hàng tận cửa không được phép yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hoặc thực hiện các nội dung hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp hợp đồng bán hàng tận cửa được lập thành văn bản, khi ký kết hợp đồng bán hàng tận cửa, người tiêu dùng phải tự ghi ngày, tháng giao kết hợp đồng.

5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động của người bán hàng tận cửa.

Chúng ta đưa ra quy định hợp đồng bán hàng tận cửa phải được lập thành văn bản và giao cho người tiêu dùng một bản, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Thực tế là hầu hết các giao dịch mua bán hàng hóa tận cửa đều là thỏa thuận miệng của các bên và diễn ra nhanh chóng. Người tiêu dùng chưa có thói quen và cũng chưa có ý thức về một bản hợp đồng bằng văn bản làm bằng chứng chắc chắn cho giao dịch mua bán. Đây cũng chính là chứng cứ để bảo vệ họ khi xảy ra những vấn đề đối với hàng hóa.

Tuy nhiên, đối với những giao dịch mua bán hàng tận cửa có giá trị nhỏ, việc lập hợp đồng bằng văn bản không cần thiết mà chỉ cần quy định có hóa đơn, chứng từ thể hiện đã thu tiền là đủ. Chúng ta cũng nên lượng hóa cụ thể một giao dịch bán hàng tận cửa có giá trị bao nhiêu tiền trở lên cần phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản.

Hơn nữa đối với những hàng hóa có giá trị lớn, quy định trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày giao kết hợp đồng, người tiêu dùng có quyền yêu cầu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đã giao kết và thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân kinh doanh dường như chưa thuyết phục. Trong vòng 03 ngày làm việc là khoảng thời gian quá ngắn để người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng và gửi thông báo bằng văn bản cho bên bán hàng.

Việc quy định người tiêu dùng phải thông báo bằng văn bản cũng là một quy định "đóng" làm khó cho người tiêu dùng. Chúng ta hoàn toàn có thể quy định người tiêu dùng có thể dùng một số hình thức gửi yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng như hình thức khá phổ biến và tiện dụng hiện nay là thư điện tử (e-mail).

Tham chiếu một số quy định của Phòng thương mại công bằng Anh quốc về bán hàng tận cửa:

Người tiêu dùng có những quyền lợi khi mua hàng tận của tương tự như khi mua hàng tại cửa hàng. Điều này có nghĩa là nếu hàng hóa xảy ra hỏng hóc, lỗi phải được miễn phí, trả lại và dịch vụ phải đáp ứng đúng với mức giá.

Với một hóa đơn hàng trị giá trên 35 bảng Anh (khoảng 1.150.000 đ), người tiêu dùng có khoảng thời gian bảy (07) ngày làm việc để hủy bỏ đơn đặt hàng vì bất cứ lý do gì. Quy định về thời gian 07 ngày làm việc được xem như khoảng thời gian cố định để "chờ quyết định" của khách hàng.

Bảy ngày làm việc được tính bắt đầu khi người bán hàng cung cấp cho người tiêu dùng văn bản thông báo quyền hủy bỏ đơn hàng của người tiêu dùng. Trong khoảng thời gian này người bán hàng không được phép đưa bất kỳ điều gì vào hợp đồng.

Người tiêu dùng không được sử dụng "thời gian chờ quyết định" bảy ngày trong trường hợp thực hiện các giao dịch về:

- Bảo hiểm

- Cổ phần hay đầu tư

- Thức ăn hoặc đồ uống thông dụng hàng ngày

- Thế chấp hoặc kế hoạch mua nhà ở khi đã đồng ý thực hiện với nhân viên bán hàng

- Bán hoặc cho thuê tài sản

- Thi công xây dựng công trình, trừ khi đó là phần mở rộng, hành lang, sân, nhà kính trồng cây, đường dẫn lái xe hoặc cải tạo nhà.

Nếu người tiêu dùng muốn hủy bỏ đơn đặt hàng, họ phải gửi văn bản có thể bằng thư hoặc thư điện tử (e-mail) đến người bán. Có thể căn cứ vào dấu bưu điện làm bằng chứng ngày gửi thư của người tiêu dùng.

Nếu người tiêu dùng đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng dịch vụ hay hàng hóa của người bán trong thời gian "chờ quyết định" thì người tiêu dùng vẫn có quyền chấm dứt đơn đặt hàng.

Người tiêu dùng cũng có quyền lấy lại toàn bộ tiền đã trả cho đơn đặt hàng, trừ khi họ đã ký những loại hợp đồng sau:

- Các hàng hóa dịch vụ cung cấp trong tình trạng khẩn cấp, ví dụ như các vật liệu cho đường ống dẫn nước bị dò rỉ

- Các loại hàng hóa theo đơn đặt hàng riêng tư

- Dịch vụ tang lễ

- Hàng hóa dễ hư hỏng như hoa quả, thực phẩm

- Các loại hàng hóa, dịch vụ liên quan và thay đổi giá theo thị trường tài chính ví dụ như các khoản vay.

Trong những trường hợp nêu trên, người tiêu dùng phải trả tiền cho các loại hàng hóa, dịch vụ họ nhận được hoặc công việc được thực hiện trong thời gian "chờ quyết định".

Nếu người tiêu dùng không chắc chắn có thể hủy bỏ hợp đồng đối với các trường hợp này hay không, họ có thể gọi đến đường dây nóng để được tư vấn.

Điều gì sẽ xảy ra khi người tiêu dùng hủy hợp đồng?

Ngày hủy hợp đồng được tính từ ngày người tiêu dùng gửi thư theo đường bưu điện hoặc gửi thư điện tử chứ không phải là ngày người bán nhận được thư.

Một khi đã hủy hợp đồng, người bán phải trả lại bất kỳ khoản tiền nào mà người tiêu dùng đã trả, kể cả tiền đặt cọc.

Khi người tiêu dùng đã nhận được tiền trả lại họ phải trả người bán hàng hóa đã nhận và có thể phải trả phí chuyển hàng.

Bất kỳ một thỏa thuận thanh toán bằng thẻ tín dụng để trả cho hàng hóa dịch vụ do người bán thiết lập sẽ tự động bị hủy bỏ, người tiêu dùng không phải trả bất cứ khoản phí nào.

Đòi hỏi của thực tiễn

Sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực, bán hàng tận cửa đã được điều chỉnh bằng những quy định chi tiết. Trước sự phức tạp và đa dạng của những hình thức bán hàng trong xã hội hiện nay, mục tiêu của tối thượng của Luật và những văn bản hướng dẫn thi hành luật là hướng tới lợi ích người tiêu dùng, tạo ra cơ chế bảo vệ họ và giúp họ bảo vệ chính mình. Đồng thời khẳng định trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng không chỉ của riêng một cơ quan hữu quan nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội.

Cục quản lý cạnh tranh - Bộ công thương đang khẩn trương tiến hành thiết lập trung tâm tư vấn và giải đáp khiếu nại của người tiêu dùng nhằm kịp thời đưa ra những khuyến nghị và trả lời những thắc mắc của người tiêu dùng trước khi quyết định mua hàng đồng thời hướng dẫn người tiêu dùng phương thức giải quyết khiếu nại.

Cùng với lộ trình hoàn thiện các văn bản pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, trong thời gian tới đường dây nóng của trung tâm tư vấn và giải đáp khiếu nại của người tiêu dùng sẽ góp phần hỗ trợ người tiêu dùng nâng cao nhận thức tự bảo vệ mình, đảm bảo quyền lợi của họ trong các giao dịch mua bán.

Nguồn : Cục Quản lí cạnh tranh
Phan Khánh An (http://www.vca.gov.vn)

Ban Biên tập cho biết về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương?
b0ng_th0n_nu

Bạn đọc xem:

- Quyết định  19/2009/QĐ-TTg ngày 06/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương:

- Lãnh đạo Cục Quản lý thị trường

- Tổ chức các Chi cục  Quản lý thị trường 

- Phù hiệu, cấp hiệu, cờ hiệu, trang phục Quản lý thị trường.



QUYẾT ĐỊNH 
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị  trường trực thuộc Bộ Công thương
__________________

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;

Căn cứ Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của Quản lý thị trường và Nghị định số 27/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của Quản lý thị trường;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Vị trí và chức năng

1. Cục Quản lý thị trường là cơ quan trực thuộc Bộ Công Thương, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước.

2. Cục Quản lý thị trường có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp; có trụ sở tại thành phố Hà Nội.

Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn

Cục Quản lý thị trường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ban hành dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước.

2. Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, chiến lược phát triển, chương trình, đề án, dự án, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước; chính sách, chế độ đối với công chức làm công tác quản lý thị trường các cấp.

3. Giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước sau khi được phê duyệt; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra, kiểm soát thị trường.

4. Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước; các văn bản cá biệt, văn bản quy phạm nội bộ theo quy định của pháp luật.

5. Xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu về tình hình vi phạm trong hoạt động thương mại, chất lượng hàng công nghiệp của tổ chức, cá nhân kinh doanh; hoạt động kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của lực lượng quản lý thị trường cả nước. Theo dõi, dự báo đề xuất giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn.

6. Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại và xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật:

a) Chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng quản lý thị trường địa phương về nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật;

b) Trực tiếp kiểm tra hoặc phối hợp với các cơ quan, các lực lượng chức năng ở trung ương, địa phương để kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước;

c) Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm quy định về chất lượng hàng công nghiệp lưu thông trên thị trường theo quy định của pháp luật;

d) Phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm và các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác trái quy định của pháp luật;

đ) Thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thương mại theo quy định của pháp luật.

7. Giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý tổ chức và xây dựng lực lượng quản lý thị trường:

a) Chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức quản lý thị trường;

b) Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch bồi dưỡng tiền công vụ, chuyên môn nghiệp vụ cho công chức quản lý thị trường các cấp và tổ chức thực hiện;

c) Cấp Thẻ kiểm tra thị trường cho công chức làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường các cấp theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

d) Tổ chức thực hiện và kiểm tra lực lượng quản lý thị trường các cấp thực hiện các quy định về tổ chức, tiêu chuẩn công chức, chế độ trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, cờ hiệu, biển hiệu, ấn chỉ và Thẻ kiểm tra thị trường;

đ) Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của cơ quan, công chức quản lý thị trường các cấp.

8. Chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục Quản lý thị trường địa phương thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

9. Thực hiện hợp tác quốc tế trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

10. Thực hiện cải cách hành chính trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Công Thương.

11. Làm nhiệm vụ cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại.

12. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

13. Quản lý và thực hiện chế độ, chính sách, đối với công chức thuộc Cục theo phân cấp quản lý của Bộ Công Thương; quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định.

14. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Công Thương giao và theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Cơ cấu tổ chức

1. Văn phòng.

2. Phòng Pháp chế.

3. Phòng Tổng hợp và Phối hợp liên ngành.

4. Phòng Chống buôn lậu.

5. Phòng Chống hàng giả.

6. Phòng Kiểm soát chất lượng hàng hoá.

7. Phòng Hợp tác quốc tế.

8. Phòng Tổ chức - Xây dựng lực lượng.

9. Văn phòng Đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.

10. Văn phòng Đại diện tại thành phố Đà Nẵng.

Điều 4. Lãnh đạo

1. Cục Quản lý thị trường có Cục trưởng và không quá 03 Phó Cục trưởng.

2. Cục trưởng và Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật.

3. Cục trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Cục theo phân cấp quản lý của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

4. Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục; Phó Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công.

Điều 5. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành

1. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký ban hành.

Bãi bỏ Quyết định số 1681/QĐ-BTM ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị trường và Quyết định số 1249/QĐ-BTM ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định số 1681/QĐ-BTM.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Ban Biên tập Tạp chí công nghiệp điện tử

Khu kinh tế mở xuyên biên giới, Khu hợp tác kinh tế biên giới khác nhau?
b0ng_th0n_nu
Khoảng 3 năm lại đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng dùng các cụm từ: “Khu kinh tế mở xuyên biên giới”, “Khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia”, “Khu hợp tác kinh tế biên giới” nhằm chỉ những vùng địa lý biên giới Việt Nam dự kiến áp dụng mô hình kinh tế hợp tác với nước láng giềng.

Lý do của việc dùng khái niệm “Khu kinh tế mở xuyên biên giới” xuất phát từ Quyết định 98/2008/QĐ-TTg. Tuy nhiên, các quyết định khác như Quyết định 55/2008/QĐ-TTg, Quyết định 115/2002/QĐ-TTg đã thống nhất gọi là “Khu hợp tác kinh tế biên giới”. Sau đó, các tỉnh biên giới như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai đang nghiên cứu, triển khai mô hình hợp tác kinh tế đều thống nhất tên gọi là “Khu hợp tác kinh tế biên giới”. Hiện nay đã thống nhất tên gọi “Khu hợp tác kinh tế biên giới”

Mỗi tỉnh biên giới đất liền ở Việt Nam với nước láng giềng đã có khu kinh tế cửa khẩu, hiện một số tỉnh đang nghiên cứu mô hình hợp tác kinh tế biên giới. Do vậy, chúng ta cần thống nhất tên gọi là “Khu hợp tác kinh tế biên giới”, hình thành các khu vực kinh tế trên lãnh thổ Việt Nam đối xứng và hợp tác với các khu vực tương ứng của nước bạn “theo hướng có quy chế chung trên một số lĩnh vực như xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh cho hành khách, lưu trú… trên cơ sở phù hợp với pháp luật của mỗi nước – là khái niệm theo Quyết định 99/2009/QĐ-TTg ngày 29/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020”.

Mai Nguyên

GỬI CÂU HỎI ĐẾN TOÀ SOẠN
Họ tên (*)

Email (*)

Điện thoại
Địa chỉ
Tiêu đề (*)

Nội dung (*)

 
Tin mới nhất Đọc nhiều nhất Phản hồi nhiều nhất